on 13:42:00

ĐẶC XÁ TRƯỚC 2/9 KHÔNG THỂ BỊ XUYÊN TẠC

Nhãn: , ,


Đặc xá là sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước do Chủ tịch nước quyết định tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước hoặc trong trường hợp đặc biệt. Quyết định về đặc xá là văn bản do Chủ tịch nước ban hành quy định thời điểm đặc xá, đối tượng, điều kiện của người được đề nghị đặc xá và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện đặc xá.
Đặc xá cũng là sự ghi nhận kết quả cải tạo, chấp hành tốt các nội quy, quy định của phạm nhân; là kết quả của quá trình giáo dục, cải tạo phạm nhân, thể hiện sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan thi hành án, gia đình, các cơ quan có liên quan và toàn xã hội trong việc thực hiện chính sách hình sự. Cũng như những lần trước đây, quá trình xét, Quyết định đặc xá năm 2015 được thực hiện chặt chẽ, công khai, công bằng, chính xác, đảm bảo dân chủ.
ĐẶC XÁ TRƯỚC 2/9 KHÔNG THỂ BỊ XUYÊN TẠC
Lễ công bố quyết định đặc xá của Chủ tịch nước. Nguồn: internet
Trước ngày 2/9, có hơn 18.000 phạm nhân được đặc xá. Trong số phạm nhân được đặc xá trong đợt này có 1.449 tội phạm về ma tuý; 2.188 phạm nhân phạm tội giết người; 1.365 phạm nhân phạm tội hiếp dâm; 2.651 phạm nhân phạm các tội cướp và cướp giật tài sản; 505 phạm nhân phạm tội trộm cắp tài sản; 512 phạm nhân liên quan đến tội danh xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; 325 phạm nhân về các tội liên quan đến chức vụ; hơn 9.000 phạm nhân phạm các tội hình sự khác. Đợt đặc xá lần này không có phạm nhân về các tội xâm phạm an ninh quốc gia được Quyết định đặc xá.
Đặc xá thể hiện chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước, ghi nhận sự tích cực trong quá trình cải tạo của từng phạm nhân. Vì vậy, quyết định đặc xá cho các phạm nhân được nghiên cứu rất kỹ lưỡng, thận trọng dựa trên Luật đặc xá năm 2007 và Quyết định số 1366/2015/QĐ-CTN ngày 10/7/2015 của Chủ tịch nước về đặc xá năm 2015. Tuy nhiên, có rất nhiều đối tượng vẫn lợi dụng để xuyên tạc, đả kích chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta, chủ yếu là đòi chúng ta thả các tù nhân chính trị.
Để một phạm nhân được đặc xá thì phải thỏa mãn rất nhiều điều kiện kèm theo, không phải bất kỳ phạm nhân nào cũng được xét đặc xá. Những phạm nhân là tù chính trị (phạm tội xâm phạm An ninh quốc gia) sẽ không được xét đặc xá trong đợt 2/9/2015 này.
Sau đây, xin trích một số vấn đề liên quan đến điều kiện đặc xá phạm nhân dựa trên Luật đặc xá 2007 và quyết định của Chủ tịch nước về đặc xá năm 2015:
Về điều kiện được đặc xá (Điều 10 Luật đặc xá):
1. Người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đang chấp hành hình phạt tù được đề nghị đặc xá phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Chấp hành tốt quy chế, nội quy của trại giam, trại tạm giam; tích cực học tập, lao động; trong quá trình chấp hành hình phạt tù được xếp loại cải tạo từ loại khá trở lên; khi được đặc xá không làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
 b) Đã chấp hành hình phạt tù được một thời gian do Chủ tịch nước quyết định nhưng ít nhất là một phần ba thời gian đối với hình phạt tù có thời hạn, nếu trước đó đã được giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù thì thời hạn được giảm không được tính vào thời gian đã chấp hành hình phạt tù; ít nhất là mười bốn năm đối với hình phạt tù chung thân;
c) Đối với người bị kết án phạt tù về các tội phạm về tham nhũng hoặc một số tội phạm khác được Chủ tịch nước quyết định trong mỗi lần đặc xá thì phải chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, bồi thường thiệt hại, án phí hoặc nghĩa vụ dân sự khác.
 2. Người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân đã được giảm xuống tù có thời hạn đang chấp hành hình phạt tù có đủ điều kiện quy định tại điểm a và điểm c khoản 1 Điều này được Chủ tịch nước quyết định thời gian đã chấp hành hình phạt tù ngắn hơn so với thời gian quy định tại điểm b khoản 1 Điều này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Đã lập công lớn trong thời gian chấp hành hình phạt tù, có xác nhận của trại giam, trại tạm giam;
b) Là thương binh; bệnh binh; người có thành tích trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội được tặng thưởng một trong các danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động, Huân chương, Huy chương kháng chiến, các danh hiệu Dũng sỹ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước; người có thân nhân là liệt sỹ; con của Bà mẹ Việt Nam anh hùng; con của Gia đình có công với nước;
c) Là người đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc ốm đau thường xuyên, có kết luận giám định y khoa hoặc xác nhận bằng văn bản của cơ quan y tế có thẩm quyền;
d) Khi phạm tội là người chưa thành niên;
đ) Là người từ 70 tuổi trở lên;
e) Có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn, bản thân là lao động duy nhất trong gia đình, có xác nhận của Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi gia đình người đó cư trú;
g) Trường hợp khác do Chủ tịch nước quyết định.
3. Chính phủ có trách nhiệm hướng dẫn chi tiết việc áp dụng điều kiện của người được đề nghị đặc xá theo Quyết định về đặc xá của Chủ tịch nước”.
Về những trường hợp không được đặc xá:
“+ Bản án hoặc quyết định của Tòa án đối với người đó đang có kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
+ Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội khác.
+ Trước đó đã được đặc xá.
+ Có từ hai tiền án trở lên: Số tiền án được thể hiện trong bản án.
+ Phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia.
+ Phạm nhân thuộc đối tượng quy định tại Khoản 1 Mục II này có thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên sáu năm hoặc thuộc đối tượng quy định tại Khoản 2 Mục II này có thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên tám năm.
+ Phạm các tội về ma túy bị phạt tù đến bảy năm mà thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên một năm; phạm các tội về ma túy bị phạt tù từ trên bảy năm đến mười lăm năm mà thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên hai năm; phạm các tội về ma túy bị phạt tù trên mười lăm năm, tù chung thân mà thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại trên ba năm. Đối với trường hợp phạm nhiều tội trong đó có tội về ma túy, thì thời hạn chấp hành án phạt tù còn lại để xét đặc xá thực hiện theo quy định tại điểm này.
+ Có căn cứ khẳng định đã sử dụng trái phép các chất ma túy là các tài liệu có trong hồ sơ phạm nhân như: Bản án; Cáo trạng; các tài liệu của Cơ quan điều tra; kết quả xét nghiệm của cơ quan y tế cấp huyện trở lên; Bản tự khai của phạm nhân có ghi rõ thời gian, số lần đã sử dụng chất ma túy... hoặc phiếu khám sức khỏe của trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có chữ ký (hoặc điểm chỉ) của phạm nhân thừa nhận là đã sử dụng trái phép các chất ma túy.
+ Đang chấp hành án phạt tù do phạm hai tội: Giết người và cướp tài sản; giết người và cướp giật tài sản; giết người và trộm cắp tài sản; giết người và hiếp dâm; giết người và hiếp dâm trẻ em; cướp tài sản và hiếp dâm; cướp tài sản và hiếp dâm trẻ em; cướp giật tài sản và hiếp dâm; cướp giật tài sản và hiếp dâm trẻ em; trộm cắp tài sản và cướp tài sản; trộm cắp tài sản và cướp giật tài sản; cướp tài sản và cướp giật tài sản; trộm cắp tài sản và hiếp dâm; trộm cắp tài sản và hiếp dâm trẻ em.
+ Đang chấp hành án phạt tù do phạm từ ba tội trở lên, kể cả trường hợp tổng hợp hình phạt;
+ Phạm một trong các tội sau đây:
- Giết người có tổ chức (quy định tại điểm o khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự);
- Hiếp dâm có tính chất loạn luân (quy định tại điểm e khoản 2 Điều 111 Bộ luật Hình sự);
- Hiếp dâm trẻ em có tính chất loạn luân (quy định tại điểm a khoản 2 Điều 112 Bộ luật Hình sự);
- Cướp tài sản có sử dụng vũ khí (các loại vũ khí được quy định tại Điều 3 Pháp lệnh số 16/2011/UBTVQH12 ngày 30 tháng 6 năm 2011 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ); cướp tài sản có tổ chức (quy định tại điểm a khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự); cướp tài sản gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng (quy định tại điểm g khoản 2, điểm c khoản 3, điểm c khoản 4 Điều 133 Bộ luật Hình sự);
- Cướp giật tài sản có tổ chức (quy định tại điểm a khoản 2 Điều 136 Bộ luật Hình sự); cướp giật tài sản gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng (quy định tại diểm h khoản 2, điểm c khoản 3, điểm c khoản 4 Điều 136 Bộ luật Hình sự);
- Trộm cắp tài sản có tổ chức (quy định tại điểm a khoản 2 Điều 138 Bộ luật Hình sự); trộm cắp tài sản gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng (quy định tại điểm g khoản 2, điểm b khoản 3, điểm b khoản 4 Điều 138 Bộ luật Hình sự);
+ Cướp tài sản nhiều lần, cướp giật tài sản nhiều lần, trộm cắp tài sản nhiều lần (từ hai lần trở lên):
Căn cứ để xác định phạm tội nhiều lần là số lần phạm tội được thể hiện trong Bản án. Riêng trường hợp trộm cắp tài sản nhiều lần, cần lưu ý: Ngoài nêu số lần trộm cắp, trong Bản án còn phải nêu rõ có tình tiết tăng nặng là phạm tội nhiều lần hoặc phần Quyết định của bản án có áp dụng điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, thì mới coi là trộm cắp tài sản nhiều lần.
+ Có một tiền án hoặc đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục hoặc trường giáo dưỡng mà bị kết án phạt tù về một trong các tội sau đây: về ma túy; giết người; hiếp dâm trẻ em; cướp tài sản; cướp giật tài sản; cưỡng đoạt tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản; trộm cắp tài sản; bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; chống người thi hành công vụ; mua bán phụ nữ hoặc mua bán người; mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em; gây rối trật tự công cộng; tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; cố ý gây thương tích có tổ chức (quy định tại điểm e khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự) hoặc có tính chất côn đồ (quy định tại điểm i khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự) hoặc phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người (quy định tại điểm c khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự)”.
Công Lý

26 nhận xét:

  1. Nhiều người ý kiến này ý kiến nọ về việc người này được đặc xá, còn người kia thì không. Nhưng thiết nghĩ trước khi mà họ ý kiến họ cũng nên nhìn lại xem người mà họ định ý kiến cho có đáng được đặc xá không, có bằng người khác không mà cũng đòi ra với đời, ra rồi lại hại người khác thì tốt nhất là cứ để trong đó chấp hành án tù cho đủ rồi hẵng ra.

    Trả lờiXóa
  2. Đặc xá, hay đặc xá tha tù, là việc giảm hay miễn thời gian đáng ra phải thi hành án phạt tù cho một đối tượng nào đó là bị cáo hay là phạm nhân.
    Đặc xá là sự thể hiện sự khoan hồng của Pháp luật Việt Nam, tạo điều kiện cho những tù nhân có cơ hội làm lại cuộc đời. Tuy nhiên không thể tù nhân nào cũng được đặc xá, đặc xá cần phải thỏa mãn rất nhiều điều kiện. Tuy nhiên qua hành động này, các thế lực thù địch lại không ngừng xuyên tạc, kêu gọi thả tù nhân chính trị, đả kích pháp luật. Bọn chúng muốn nhân cơ hội này để nói xấu, xuyên tạc làm giảm đi tính nghiêm minh, công bằng của pháp luật

    Trả lờiXóa
  3. Đánh người chạy đi chứ không ai đánh người chạy lại. Việc áp dụng hình phạt tù đối với họ chỉ có tính chất giáo dục, răn đe chứ không hề là có mục đích trừng trị. Khi họ cải tạo tốt, biết sai lầm, muốn sửa chữa thì đó chính là mục đích cuối cùng đã đạt được của hình phạt tù. Vậy nên Đặc xá để họ trở lại con đường lương thiện để hòa nhập cộng đồng, xum vầy cùng gia đình là điều thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước. Các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc điều này nhằm mục đích chống phá mà thôi.

    Trả lờiXóa
  4. Đặc xá là chính sách khoan hồng của đảng và nhà nước, được ghiên cứu rất kỹ lưỡng trước khi ban hành quyết định rồi, chẳng có gì để bàn cãi cả

    Trả lờiXóa
  5. @Kẻ săn tin

    Tổ cha cái ngày 2 tháng 9 càng đọc càng thấy ĐCSVN chỉ được cái tội láo xạo ...... Nhìn Campuchia mà ngày xưa miền Nam VN xem là tụt hậu hơn mình ... rồi sau 1975 cái đảng thổ tả cai trị cả nước VN thì ...............

    Sau khi đã bỏ xa Việt nam về chế tạo xe hơi Công Nghiệp , đến lúc Campuchia qua mặt Việtnam về Nông Nghiệp .
    Việt Nam phải "cắp sách vở" sang Campuchia mà học trồng lúa!
    Không biết cờ Búa Liềm đại diên cho Công Nông còn ý nghĩa gì đây??

    Là một đất nước nông nghiệp, đi lên từ nghề lúa nước nhưng xuất khẩu gạo của VN vẫn chưa hề có chỗ đứng trên thương trường. Trái lại, Campuchia lại rất giỏi trong ngành này. Hãy cùng vietbf khám phá nhé!
    Số liệu từ Văn phòng Thư ký dịch vụ một cửa về xuất khẩu gạo Campuchia, cho biết, 7 tháng đầu năm nay, Campuchia xuất khẩu được 312.300 tấn gạo. So về con số tuyệt đối thì sản lượng xuất khẩu gạo của Campuchia chỉ bằng 1/10 của Việt Nam. Nhưng xét về mức độ tăng trưởng, xuất khẩu gạo của Campuchia đã tăng 53% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi gạo xuất khẩu của Việt Nam lại giảm. Campuchia đi sau Việt Nam rất xa trong xuất khẩu gạo. Nếu như Việt Nam đã tham gia cuộc chơi này từ hơn 20 năm trước, thì Campuchia chỉ mới bắt đầu khoảng 5 năm trở lại. Dù vậy, gạo Campuchia đã xuất sang 53 quốc gia trên thế giới, còn gạo Việt Nam vẫn quanh quẩn với 10 thị trường chính. Thực tế, gạo Việt Nam chỉ tập trung ở những quốc gia có thu nhập trung bình và thấp thuộc châu Á, châu Phi. Gạo Campuchia hiện đã bán sang những thị trường khó tính như Mỹ, các nước châu u (EU). Hiện tại, EU chiếm 60% lượng gạo xuất khẩu của Campuchia.

    Đáng nói hơn, trong khi Việt Nam chủ yếu chỉ xuất khẩu gạo trắng thì Campuchia còn xuất khẩu gạo thơm (gạo chất lượng cao) với tỷ lệ xấp xỉ gạo trắng, trên 44%. Cùng loại gạo trắng và bán cùng thời điểm, gạo Campuchia vẫn luôn có giá cao hơn gạo Việt Nam 30-50 USD một tấn . Campuchia đã gần như đuổi kịp Thái Lan khi có tới 8 thương hiệu để trình làng tại Hội chợ Thương mại Lương thực tổ chức ở Bangkok vào năm ngoái. Đặc biệt, 2014 là năm thứ 3 liên tiếp gạo lài Campuchia, hay còn gọi là Phka Romdoul, được bình chọn là loại gạo ngon nhất thế giới. Còn Việt Nam vẫn chưa có thương hiệu gạo riêng cho mình. Về thứ hạng, từ chỗ là quốc gia đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu gạo, hiện Việt Nam không chỉ thua Thái Lan mà còn bị Ấn Độ, Pakistan qua mặt. Trong khi đó, Campuchia vốn xếp sau cùng bảng danh sách đã trở thành đối thủ cần chú ý. Ngay chính Giáo sư Võ Tòng Xuân, một chuyên gia nông nghiệp nổi tiếng của Việt Nam, cũng đã thừa nhận rằng, Việt Nam cần học cách làm gạo của Campuchia. Theo ông, Campuchia đã sản xuất gạo với chất lượng tốt và làm thương hiệu rất bài bản.

    Trả lờiXóa
  6. @Ba Bụi

    2 tháng 9 Ngày ruồi bu kiến đậu

    Đảng Ba Đình tự thân là đảng cướp
    Từ trong hang chui rúc xuống đồng bằng
    Bản chất lọc lừa chứng đổi họ thay tên
    Thay từ Cướp ra thành từ Cách mạng
    Danh có chính thì ngôn mới thuận
    Chúng ca bài đầy tớ của nhân dân
    Lộng ngôn ngữ để tung hoành bóc lột
    Đất nước banh chành bị móc ruột moi gan


    Đến hôm nay tròn chẵn 70 năm
    Chúng hồ hởi tưng bừng ngày cướp cạn
    Vung tiền thuế nhân dân như vãi cát
    Diễn tuồng chèo hát xẩm diễu binh

    Điều động hơn 3 vạn quân thảo khấu
    Bắn cà nông 21 phát ăn mừng
    Diệu võ dương oai quanh nhà xí Ba Đình
    Xem ông chủ như trâu cày ngựa kéo

    Với mục đích yêu cầu hoành tráng
    Trên khán đài lố nhố đám ruồi trâu
    Ngày hội lớn chúng bu về dự tiệc
    Mừng liên hoan cờ Phúc Kiến Ba Đình
    Nhìn thấy cờ lại nhớ ngay đến bác
    Nhớ cha già đi sâu sát nhân dân
    Chỉ cháu gái mới được gần kề bác
    Các cháu ơi! kinh nguyệt có đều không?

    Đã đến lúc 70 năm nhìn lại
    Quyền con người như miếng giẻ lau mâm
    Nói chi đến bản Tuyên ngôn độc lập
    Chúng xem như tờ giấy đi cầu
    Thành quả cách mạng là cái còng số 8
    Là Hội nghị Thành Đô đảng đã ký năm nào!
    Là nước lạ đảng cuối đầu thần phục!
    Chẳng lẽ chờ...
    70 năm nữa hay sao?

    2/9/2015

    Trả lờiXóa
  7. VIỆT NAM DƯỚI 'THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH'

    "Nếu cứ đinh ninh rằng – hay tệ hơn, huênh hoang cho rằng – VN đang sống dưới ‘một thời đại rực rỡ nhất’ – hoặc cứ mãi ‘gặm nhấm quá khứ’, ru ngủ chính mình bằng những ‘thắng lợi’, ‘kỳ tích’, ‘thành tựu’ trong quá khứ – 10, 20 hay 30 năm nữa đất nước vẫn cứ tụt hậu, thua kém so với các nước trong vùng"

    "Đáng nói và trớ trêu hơn, quốc gia đe dọa, xâm hại độc lập, chủ quyền của Việt Nam trong hơn 40 năm qua và hiện tại không ai khác là Trung Quốc – quốc gia cùng chung ý thức hệ ‘cộng sản’ và là ‘láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt’ của Việt Nam"

    "Nhưng những gì mà ĐCS gọi là ‘đổi mới’ thực ra chẳng có gì mới đối với nhiều nước trong khu vực khác. Chẳng hạn, mô hình kinh tế thị trường đã được Singapore, Malaysia hay Hàn Quốc tiến hành từ 20 hay thậm chí 30 năm trước"
    - TS. Đoàn Xuân Lộc

    Phát biểu dịp Việt Nam kỷ niệm 125 năm Ngày sinh Hồ Chủ tịch cách đây hơn ba tháng, ông Nguyễn Phú Trọng cho rằng ‘thời đại Hồ Chí Minh là một thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam, là kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội’.

    Dù Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam không nêu cụ thể, có thể nói ‘thời đại’ ấy được bắt đầu từ ‘cách mạng tháng Tám và việc thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà’ cách đây 70 năm. Vì theo ông, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCS), ‘cách mạng’ Việt Nam đã ‘đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác’ và ‘thắng lợi’ đầu tiên được ông nhắc đến là thắng lợi của hai sự kiện này.
    ‘Rực rỡ, sáng ngời’?

    Trong số những hoạt động ‘kỷ niệm 70 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh’ ở Việt Nam năm nay cũng có một chương nghệ thuật đặc biệt với chủ đề “Việt Nam - Thời đại Hồ Chí Minh”, diễn ra vào tối 2/9 tại Trung tâm hội nghị quốc gia Mỹ Đình.

    Chương trình nghệ thuật ấy cũng như diễn văn của lãnh đạo Việt Nam tại lễ kỷ niệm hai biến cố đó vào ngày 2/9 tới hay các bài viết, phát biểu khác của quan chức Việt Nam vào dịp này chắc chắn cũng nhắc lại những ‘mốc son chói lọi’, ‘thắng lợi vĩ đại’, ‘chiến thắng lừng lẫy’, ‘kỳ tích vẻ vang’ hay những ‘thành tựu to lớn’ của Việt Nam dưới ‘thời đại Hồ Chí Minh’ trong 70 năm qua.

    Trong những ‘thắng lợi’, ‘thành tựu’ ấy – như ông Nguyễn Phú Trọng nêu trong diễn văn của mình vào ngày 19/05/2015 – còn có ‘thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp’, ‘thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước’ và ‘thắng lợi bước đầu với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới’.

    Theo ông Trọng, ‘với những thắng lợi đó, Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do’; ‘nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước Việt Nam từ nghèo nàn, lạc hậu […] trở thành một nước đang phát triển có thu nhập trung bình, có vị thế ngày càng quan trọng trên thế giới’.

    Đó cũng là lý do ông cho rằng ‘dân tộc Việt Nam chưa bao giờ có được cơ đồ như ngày nay, triển vọng phát triển rất tươi sáng’ và coi ‘thời đại Hồ Chí Minh là thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử Việt Nam’.

    Thực sự rất khó dựa vào những tiêu chí, sự kiện, ‘thắng lợi’ trên để nói rằng Việt Nam ‘thời đại Hồ Chí Minh rực rỡ’ hơn những thời đại trước của Việt Nam vì các giai đoạn, thời đại lịch sử rất khác nhau.

    Hơn nữa, với xu hướng phát triển chung của nhân loại, một thời đại sau phát triển hơn một thời đại trước cũng không có gì là quá lạ, đáng khen.

    Nhưng nếu nhìn lại Việt Nam trong 70 năm qua và đặc biệt khi so sánh Việt Nam với các nước khu vực khác cùng thời gian ấy, có thể thấy rằng mọi chuyện ở Việt Nam kể từ ‘Cách mạng tháng Tám’ năm 1945 – khi Việt Minh hay những người Cộng sản lên nắm quyền – không phải lúc nào cũng ‘tươi sáng’, ‘rực rỡ’ hay ‘kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội’ mà Việt Nam đã và đang trải qua không hoàn toàn tốt đẹp như lãnh đạo, quan chức Việt Nam ca ngợi, tuyên truyền.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Chiến tranh, xung đột?

      Không lâu sau khi ‘Cách mạng tháng Tám thành công’ và ‘nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời’, Việt Nam đã phải đương đầu với ‘cuộc chiến chống Pháp’, rồi cảnh Bắc-Nam chia cắt và sau đó là ‘cuộc chiến chống Mỹ’.

      Riêng ‘cuộc chiến chống Mỹ cứu nước’ cũng là cuộc chiến huynh đệ tương tàn, cướp đi mấy triệu người Việt và đến giờ những chia rẽ, hận thù, vết thương cuộc chiến đó gây nên vẫn chưa được hoàn toàn hàn gắn, hòa giải, chữa lành.

      Là người Việt Nam, không ai lại muốn hay chấp nhận bất cứ sự can thiệp, xâm chiếm, đô hộ của bất cứ một ngoại bang nào, dù với bất cứ lý do hay trên danh nghĩa gì. Là người Việt, chắc ai cũng tự hào về truyền thống chống ngoại xâm, dựng và giữ nước của dân tộc mình.

      Nhưng khi có cơ hội tiếp cận với nhiều sử liệu mới, xác đáng hay có một cái nhìn tổng quan, đa chiều hơn về lịch sử của đất nước, của các nước khu vực và của thế giới, chắc cũng có không ít người tự hỏi tại sao cùng bị thực dân phương Tây đô hộ và Nhật chiếm đóng, không một quốc gia nào ở Đông Nam Á lại rơi vào một giai đoạn xung đột, chia cắt, tang thương như Việt Nam sau năm 1945?

      Vẫn biết rằng bối cảnh của Việt Nam ít hay nhiều khác bối cảnh của các nước Đông Nam Á như Indonesia hay Malaysia trước và sau năm 1945, chắc cũng có người thắc mắc tại sao những quốc gia phi cộng sản này có thể giành và giữ độc lập của mình mà không phải trải qua những xung đột, cuộc chiến đẫm máu như Việt Nam?

      Ngoài hai cuộc chiến trên, Việt Nam cũng có chiến tranh biên giới 1979 và hải chiến Trường sa 1988 với Trung Quốc. Có điều, khác với cuộc chiến chống Pháp và chống Mỹ, hiện tại hai cuộc chiến với quốc gia Cộng sản này không được giới lãnh đạo Việt Nam nhắc đến hay chính thức cho tưởng nhớ.

      Trước đó, vào năm 1958 – khi Hà Nội có quan hệ mật thiết ‘môi hở răng lạnh’ với Bắc Kinh – ông Phạm Văn Đồng, Thủ tướng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó, đã ký một công hàm ngoại giao ‘ghi nhận và tán thành’ bản tuyên bố của Trung Quốc về hải phận 12 hải lý của quốc gia này. Dù mục đích, nội dung, giá trị của nó là gì, công hàm ấy đang được Trung Quốc tận dụng triệt để trong tranh chấp biển đảo hiện tại với Việt Nam.

      Cũng chính quốc gia Cộng sản này đã tiến hành hải chiến Hoàng sa năm 1974 và từ đó đến giờ có vô số hành động khiêu khích, hung hăng, mạnh bạo nhằm lấn chiếm vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.

      Nhắc lại những sự kiện trên để thấy, dù nguyên nhân sâu xa là gì, kể từ Cách mạng tháng Tám năm 1945, Việt Nam đã phải đối diện với nhiều cuộc chiến, xung đột và độc lập, chủ quyền của mình không phải lúc nào cũng được tôn trọng, toàn vẹn.

      Đáng nói và trớ trêu hơn, quốc gia đe dọa, xâm hại độc lập, chủ quyền của Việt Nam trong hơn 40 năm qua và hiện tại không ai khác là Trung Quốc – quốc gia cùng chung ý thức hệ ‘cộng sản’ và là ‘láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt’ của Việt Nam.
      Khủng hoảng, sai lầm?

      Khi nhìn lại lịch sử Việt Nam kể từ 1945, giới lãnh đạo ĐCS Việt Nam thường chỉ nhắc đến hay nhấn mạnh hoặc ca ngợi ‘thắng lợi’ của ‘Cách mạng tháng Tám’, của cuộc chiến chống Pháp, chống Mỹ và ‘công cuộc đổi mới’ từ năm 1986. Nhưng họ thường né tránh, phủ nhận những khó khăn, khủng hoảng, thất bại do những đường lối sai lầm của họ gây nên.

      Chủ trương, chương trình cải tạo và xây dựng ‘xã hội chủ nghĩa’ mà Đảng Cộng sản tiến hành ở miền Bắc sau 1954 và trên cả nước sau 1975 đã thất bại, dẫn đến những hậu quả vô cùng tệ hại cho đất nước và người dân, không chỉ về mặt kinh tế mà còn về mặt xã hội, đạo đức.

      Chẳng hạn chương trình ‘Cải cách ruộng đất’ ở miền Bắc hay chủ trương ‘đấu tranh giai cấp’ đã gây nên chia rẽ, hận thù, phân biệt đối xử, làm đảo lộn trật tự gia đình, xã hội.

      Cũng vì học thuyết, chủ trương sai lầm đó, giớ trí thức, nhân sĩ yêu nước bị khinh rẻ, đàn áp – như trong vụ ‘Nhân văn Giai phẩm’ hay vụ án ‘Xét lại chống Đảng’.

      Rồi khi - và nhiều năm sau khi - ‘miền Nam được hoàn toàn giải phóng’ và đất nước được thống nhất cũng là thời điểm mấy triệu người Việt lần lượt liệu mạng bỏ nước ra đi.

      Xóa
    2. Họ chấp nhận đánh đổi tất cả – ngay cả mạng sống của mình, người thân của mình – vì trong những năm tháng ấy họ cảm thấy không được tự do, không đủ ăn, đủ mặc, không có tương lai, không có hy vọng khi sống trên quê hương, đất nước của mình.

      Trong lịch sử Việt Nam – và thậm chí hiếm khi trong lịch sử thế giới – lại có làn sóng người vượt biển, vượt biên để tị nạn nước ngoài đông và thê thảm như vậy.

      Vì những sai lầm về đường lối làm đất nước rơi vào khủng hoảng, cô lập, kinh tế kiệt quệ, người dân cơ cực, năm 1986, Đảng Cộng sản buộc phải đổi mới về kinh tế và đối ngoại.

      Chính sự đổi mới đó đã làm thay đổi hình ảnh của Việt Nam và cải thiện đời sống của người dân. Việt Nam đã thoát cảnh đói nghèo; từ một trong những nước nghèo nhất trên thế giới, Việt Nam đã trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình (thấp).

      Vì thế, không có gì là ngạc nhiên khi nói về những ‘thành tựu to lớn’ dưới ‘thời đại Hồ Chí Minh’ hay những ‘thắng lợi’ trong ‘kỷ nguyên’ mới ở Việt Nam, giới lãnh đạo, quan chức của Việt Nam luôn nhấn mạnh, ca ngợi ‘công cuộc đổi mới’ này.

      Không ai phủ nhận rằng nhờ chương trình đổi mới đó, vị thế, kinh tế của Việt Nam, đời sống của người dân Việt Nam đã tốt hơn rất nhiều so với trước năm 1986.

      Nhưng những gì mà ĐCS gọi là ‘đổi mới’ thực ra chẳng có gì mới đối với nhiều nước trong khu vực khác. Chẳng hạn, mô hình kinh tế thị trường đã được Singapore, Malaysia hay Hàn Quốc tiến hành từ 20 hay thậm chí 30 năm trước. Vì vậy, những quốc gia này đã vượt xa Việt Nam.
      Đất nước tụt hậu?

      Hơn nữa, dù thoát cảnh đói nghèo, Việt Nam hiện giờ cũng chỉ là một nước có thu nhập trung bình thấp và sau 30 năm ‘đổi mới’, Việt Nam vẫn không thể bắt kịp nhiều nước trong khối ASEAN.

      Điều đáng nói là nếu so sánh với nhiều nước trong khối ASEAN, mức độ phát triển về kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn ‘đổi mới’ không ấn tượng như giới lãnh đạo, quan chức Việt Nam thường ca ngợi.

      Chẳng hạn, theo số liệu của Quỹ tiền tệ quốc tế, trong giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2015, thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam chỉ tăng khoảng bốn lần (từ 556 USD lên 2,234 USD).

      Trong khi đó, cùng khoảng thời gian ấy, con số đó ở Singapore tăng hơn tám lần (từ 6,864 USD lên 57,442 USD), Malaysia tăng hơn bảy lần (từ 1,711 USD lên 12,418 USD), Thái Lan tăng bảy lần (từ 813 USD lên 5,704 USD), Indonesia tăng gần sáu lần (từ 611 USD lên 3,529 USD) và Philippines tăng hơn năm lần (từ 590 USD lên 3,279 USD).

      Xóa
    3. Việt Nam tụt hậu so với những quốc gia trong vùng phần lớn vì trong giai đoạn được coi là ‘đổi mới’, giới lãnh đạo Việt Nam đã không có những cải cách thích hợp, thiết thực, toàn diện. Thực ra, Việt Nam chỉ cải cách nửa vời – theo ‘kinh tế thị trường’ nhưng lại ‘định hướng xã hội chủ nghĩa’.

      Vì cải cách kinh tế không triệt để và đặc biệt không có những thay đổi đáng kể về chính trị, thể chế Việt Nam hiện đang thua nhiều nước ASEAN về nhiều mặt khác.

      Các chỉ số quốc tế – như chỉ số cạnh tranh quốc gia, dân chủ, minh bạch – đều xếp Việt Nam sau Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan.

      Cách đây mấy tháng, chính Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng phải thừa nhận rằng Việt Nam đứng chót trong nhóm ASEAN-6 (Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Singapore), ‘thậm chí có lĩnh vực còn thấp hơn Lào, Campuchia, Myanmar’ – ba nước được coi là kém phát triển nhất trong khối.

      Một trong những lĩnh vực mà Việt Nam xếp sau ba quốc gia đó là tự do báo chí.

      Nói thế để thấy so với các nước khu vực khác, Việt Nam ‘dưới thời đại Hồ Chí Minh’ hay trong ‘kỷ nguyên độc lập tự do và xã hội chủ nghĩa’, không thực sự giàu mạnh, minh bạch, dân chủ và tự do.

      Chẳng hạn, những quyền bình đẳng, quyền tự do được nhấn mạnh trong Tuyên ngôn độc lập Hồ Chủ tịch đọc ngày 2/9/1945 hay những quyền căn bản khác như quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội được nêu tại ‘Quốc dân Đại hội’ diễn ra tại Tân Trào trong hai ngày 16-17/8/1945 nay vẫn chưa được hoàn toàn biến thành hiện thực.

      Đến giờ người dân vẫn bị bỏ ngoài cuộc, không có tiếng nói gì trong các vấn đề hệ trọng của đất nước – như bầu chọn lãnh đạo hay hoạch định, thực hiện đường lối, chính sách. Tất cả mọi chuyện đều do ĐCS – hay nói đúng hơn những nhân vật cao cấp, Bộ Chính trị hay Ban chấp hành Trung ương của ĐCS – quyết định.

      Nói cách khác, nhân dân Việt Nam chưa thực sự ‘trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội’ như ông Nguyễn Phú Trọng và các lãnh đạo, quan chức khác của Việt Nam biện bạch.

      Sự tụt hậu, thua kém của Việt Nam so với các nước trong vùng càng ngày càng khiến nhiều người cho rằng Việt Nam cần phải có một ‘đổi mới’ khác – hay ‘đổi mới lần hai’ – và thời điểm thuận lợi cho một thay đổi như vậy là Đại hội XII của ĐCS Việt Nam vào năm tới.

      Nhưng một cuộc đổi mới như thế chỉ có thể xẩy ra nếu giới lãnh đạo Việt Nam dám can đảm thừa nhận những yếu kém, trì trệ của đất nước mình cũng như những nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự trì trệ đó và có quyết tâm đưa Việt Nam theo kịp các nước phát triển trong khu vực.

      Còn nếu cứ đinh ninh rằng – hay tệ hơn, huênh hoang cho rằng – Việt Nam đang sống dưới ‘một thời đại rực rỡ nhất’ – hoặc cứ mãi ‘gặm nhấm quá khứ’, ru ngủ chính mình bằng những ‘thắng lợi’, ‘kỳ tích’, ‘thành tựu’ trong quá khứ – 10, 20 hay 30 năm nữa đất nước vẫn cứ tụt hậu, thua kém so với các nước trong vùng.

      TS. Đoàn Xuân Lộc

      Xóa
  8. KHI THÀNH QUẢ CÁCH MẠNG BỊ 'BIẾN HÓA'

    “Cuộc cách mạng tháng Tám đã giành lại chủ quyền cho đất nước, tự do cho nhân dân và lập ra nền dân chủ cộng hoà…”, đó là câu mở đầu trong phần Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1946 đã cho thấy mục đích tiền khởi của cuộc cách mạng tháng 8 là để lập ra “nền dân chủ cộng hoà”.

    Sau cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa đầu tiên vào ngày 06/01/1946, theo nhiều tư liệu chính thống ghi lại cho thấy sau 10 tháng 'chuẩn bị tích cực, dưới sự chỉ đạo' của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 09/11/1946, Quốc hội Khóa I (kỳ họp thứ 2) chính thức thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam (với 240/242 phiếu tán thành), đó là Hiến pháp năm 1946.

    Đây là văn bản pháp lý chính thức xác nhận thể chế và pháp chế của nhà nước Việt Nam được chính thức tuyên bố khai sinh ngày 2/9/1945.

    Trong Lời nói đầu, Hiến pháp 1946 đã xác định nhiệm vụ của bộ máy nhà nước Việt Nam:

    ”Nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốc gia trên nền tảng dân chủ…”

    Như vậy, nói theo ngôn ngữ tin học hiện đại: nền tảng của hệ điều hành, quản trị của bộ máy nhà nước Việt Nam theo Hiến pháp (HP) 1946 là “nền tảng dân chủ”.

    Nền tảng dân chủ của Hiến pháp 1946 được cụ thể hoá tại một số điều, đáng chú ý nhất là Điều 12.

    Điều này quy định: ”Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm…”
    Không tiếc xương máu

    Trong Hiến pháp 1946 không quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý như các văn bản Hiến pháp 1992, 2013; vào thời điểm 1946, khi 90% dân số Việt Nam là nông dân, quy định như Điều 12 này vô cùng có ý nghĩa với nông dân, lôi kéo người nông dân đi theo, tham gia các cuộc chiến tranh mà họ không tiếc xương máu.

    Hay như Điều thứ 32, là điều quy định về người dân tham gia phúc quyết các vấn đề liên quan tới vận mệnh quốc gia, quyền này đã không còn xuất hiện trong các văn bản Hiến pháp tuyên bố là kế thừa 1959, 1992, 2013:”Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị viên đồng ý. Cách thức phúc quyết sẽ do luật định”…

    Tới Hiến pháp 1959 trong Lời nói đầu đã tránh, không còn xác định dân chủ là nền tảng của “hệ điều hành” quản trị bộ máy nhà nước nữa; khái niệm dân chủ được lồng ghép vào những định ước, khái luận chung chung, khiến cho khái niệm “ nền tảng dân chủ” trở nên xa, mờ, nhạt dần:

    “Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân Việt Nam đã xây dựng một nước Việt Nam độc lập và dân chủ”; “Hiến pháp mới là một Hiến pháp thực sự dân chủ. Hiến pháp mới là sức mạnh động viên nhân dân cả nước ta phấn khởi tiến lên giành những thắng lợi mới…”, (Lời nói đầu Hiến pháp 1959).

    Từ Hiến pháp 1959 bắt đầu lấp ló xuất hiện vai trò lãnh đạo nhà nước của Đảng:” Nhà nước của ta là Nhà nước dân chủ nhân dân, dựa trên nền tảng liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo…”

    Trong Hiến pháp 1959, vai trò giám sát quyền lực nhà nước của nhân dân được thể chế bằng Điều 4:

    ”Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân.

    "Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan Nhà nước khác đều thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ…”
    Nền tảng mặc định

    Từ “ dân chủ“ vốn là nền tảng được mặc định của hệ điều hành quản trị nhà nước năm 1946 đã được chuyển hoá thành “nguyên tắc tập trung dân chủ”… Phải chăng điều đó có nghĩa là từ Hiến pháp 1959, dân chủ phải gia cố, cõng gánh thêm “cái ông” tập trung thì cái dân chủ đó mới có hiệu lực, hiệu quả được nhà nước chấp thuận?

    Trong Hiến pháp 1992 cũng không nhắc gì tới “nền tảng dân chủ” của hệ điều hành quản trị của bộ máy nhà nước và thay vào đó giống Hiến pháp 1959, nhấn mạnh vai trò lãnh đạo nhà nước của Đảng Lao động Việt Nam, Hiến pháp 1959; Đảng Cộng sản Việt Nam (Hiến pháp 1992).

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Trong Hiến pháp 1992 đã xác định rõ hơn vai trò Đảng lãnh đạo nhà nước tại Điều 4:

      Điều này quy định: ”1. Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội…”

      Hiến pháp 1992 quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước, thể chế hoá mối quan hệ giữa Ðảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý.

      Đến Hiến pháp 2013 thì phạm trù dân chủ được phân vai rạch ròi trong Lời nói đầu:

      ”Thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kế thừa Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh…”

      Giống với Hiến pháp 1992, trong Hiến pháp 2013, vai trò lãnh đạo nhà nước của Đảng tiếp tục được thể chế trong Điều 4.

      Như vậy, nếu Hiến pháp 1946 với hệ điều hành quản trị nhà nước dựa trên nền tảng dân chủ thì tới Hiến pháp 2013 “hệ điều hành dân chủ” từ “nền tảng” chuyển thành 1 trong 5 mục tiêu hướng tới của bộ máy nhà nước.
      Chuyển hóa 'Đảng chủ'

      Tóm lại, hệ điều hành quản trị của bộ máy nhà nước Việt Nam từ tiền khởi văn bản Hiến pháp 1946, thành quả của Cách mạng tháng 8 tới Hiến pháp 2013 đã chuyển hoá từ dân chủ sang “Đảng chủ”.

      Có điều do sự mặc định mới này mà Quốc hiệu Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đang được thông dụng hiện nay có vẻ không thật trùng khớp với bản chất và ngôi thứ của hệ điều hành “ đảng chủ” này.

      Nếu đúng bản chất của hệ điều hành quản trị đã được mặc định trong hiến pháp thì quốc hiệu Việt Nam cần phải chỉnh sửa: 'Xã hội chủ nghĩa Việt Nam cộng hoà' thì mới sát, đúng. Còn gọi Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì đã vô tình biến Đảng, “ông chủ” duy nhất lãnh đạo nhà nước toàn diện lại hoá thành lực lượng phụ trợ nhà nước.

      Vì đảng mới là chủ thể, là lực lượng chính trị chi phối toàn diện hệ điều hành này như Điều 4 đã mặc định tính chất, quyền năng của hệ điều hành “đảng chủ”:

      Điều này nêu rõ: ”1. Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

      "2. Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình…”

      Đây là vấn đề vừa mang tính lý luận vừa mang ý nghĩa thực tiễn mà rất mong được các nhà “Hồ Chí Minh học” sớm làm sáng tỏ bằng các công trình lý luận công phu để việc kế thừa “ nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh” được người dân bình thường hiểu, quán triệt mà đồng thuận.

      Bởi vì từ quốc hiệu của nhà nước và một số vấn đề mang tính cốt lõi của thể chế trong hiến pháp 1946 đã có những thay đổi, chuyển hoá khó hiểu; nếu không được giải thích, thuyết phục thấu đáo thì sẽ xô đẩy xã hội tới chỗ phân tâm, hoài nghi, không biết đâu mà lần.

      Nhà văn Phạm Viết Đào
      Gửi cho BBC từ Hà Nội
      (tháng 08 2015)

      Xóa
  9. Thật không thể hiểu nổi những con người luôn thấy việc gì có tính chất trọng đại cũng xuyên tạc được. Việc đặc xá cả năm mới có một lần thể hiện tính chất khoan hồng của Nhà nước mà có lẽ không phải nơi nào trên thế giới cũng có. Tôi có nhớ một lần một vị chính khách nước ngoài khi đến thăm Trại giam của chúng ta thấy có một điều thú vị, bất ngờ mang tên "Buồng hạnh phúc". Những tù nhân họ chấp hành tốt, muốn được làm lại cuộc sống nên được Chủ tịch nước ký Quyết định đặc xá. Việc đặc xá thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước nhưng những tên xuyên tạc kia lại vin vào cớ đấy để xuyên tạc không đúng tình hình. Có lẽ mục đích là gì thì chẳng ai phải hỏi nữa cả.

    Trả lờiXóa
  10. Đặc xá là chính sách rất nhân đạo của nước ta. Việc đặc xá cũng đã được xem xét rất kỹ lưỡng trước khi thực hiện. Những người xứng đáng sẽ được hưởng sự khoan hồng của nhà nước. Còn những ai không được đặc xá lần này hãy xem lại bản thân, để biết mình đã đủ tốt hay chưa rồi hãy nói.

    Trả lờiXóa
  11. Không phải nói đâu xa, nhưng để có một quyết định đặc xá đúng đắn, khách quan, hợp lý thì là do sự nỗ lực cố gắng cố gắng, nỗ lực. Một quy trình nghiêm ngặt cả đối với người được đặc xá và quy trình đặc xá. Không dễ gì có thể có đặc xá đối với những đối tượng không chịu cải tạo, vi phạm kỷ luật. Hình phạt là để giáo dục là mục đích cuối cùng. Khi những phạm nhân đã hiểu rõ sai lầm, muốn làm lại cuộc sống, cải tạo tốt thì việc đặc xá là điều đương nhiên.

    Trả lờiXóa
  12. Hơn 18.000 phạm nhân được đặc xá lần này và chủ yếu là các phạm nhân phạm các tội về ma tuys, kinh tế và các tội hình sự khác. Nhưng không thấy bóng dáng một phạm nhân phạm tội xâm phạm ANQG nào được đặc xá. Vấn đề ở đây là các đối tượn xâm phạm ANQG nào được đặc xá. Vấn đề là các đối tượng này đâu có chịu cải tạo, lười lao động, đã chịu hình phạt rồi nhưng vẫn có những hành động kích động chống phá, tuyên truyền. Thử hỏi những con người này có đủ tư cách để được Chủ tịch nước ký Quyết định đặc xá hay không. Câu trả lời là: Không .Rõ ràng các đối tượng hoạt động chống phá khác khi không thấy 'đồng bon' của chúng được đặc xá thì có hành động xuyên tạc, vu cáo, bịa đặt đợt Đặc xá lần này.

    Trả lờiXóa
  13. Đặc xá là sự khoan hồng của pháp luật và nhà nước Việt Nam cho những con người đã từng lầm lỡ nhưng biết ăn năn hối cải làm lại cuộc đời. Ra tù, trở về với cuộc sống thường ngày mong họ sẽ lấy lầm lỡ của mình làm bài học để tránh xa con đường phạm tội, đừng để những hi vọng của gia đình, của người thân lại tiêu tan một lần nữa.

    Trả lờiXóa
  14. Trong điều kiện đặc xá đã rất rõ rồi, đó là những người đặc xá thì phải cải tạo tốt, nhận ra lỗi lầm của mình và có cơ sở để cho rằng họ sẽ hoàn lương khi được trở về, nên đặc xá là một chính sách hay tạo cơ hội cho những con người thực sự hoàn lương trở về làm lại cuộc đời sớm hơn

    Trả lờiXóa
  15. tạo cơ hội cho những người tù cải tạo tốt nhanh chống hoà nhập cuộc sống để làm lại cuộc đời, đóng góp tích cực cho xã hội đó là ý nghĩa cao cả nhất của đặc xa và tôi cũng hi vọng rằng với chính sách đặc xá này thì những người tù sẽ hiểu được ơn của đảng nhà nước và hãy làm những điều tốt đẹp cho đất nước mình

    Trả lờiXóa
  16. đặc xá là một chính sách hay thể hiện sự khoan hồng của Đảng Nhà nước ta, và để cho thế giới thấy rõ chúng ta không có sự đàn áp gì đối với nhân dân với người tù ở đây cả, tôi hi vọng rằng những tù nhân được đặc xá ở đợt này sẽ nhanh chống hoà nhập, hoàn lương và làm những điều có ích cho đất nước cho xã hội

    Trả lờiXóa
  17. Cứ mỗi dịp đại lễ của dân tộc, đất nước là Nhà nước ta thực hiện chính sách khoan hồng đặc xá đối với những phạm nhân có ý thức cải tạo tốt, mong muốn làm lại cuộc đời tốt đẹp hơn. 2/9 năm nay không phải là lần đầu tiên phạm nhân được đặc xá, càng không phải đặc xá đổi tù nhân lấy chính trị và thương mại. Tất cả những gì mà Đảng và Nhà nước muốn làm là tiếp nối những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, luôn bao dung, nhân hậu với những người từng lầm đường , lạc lỗi.

    Trả lờiXóa
  18. Đặc xá là sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước do Chủ tịch nước quyết định tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước hoặc trong trường hợp đặc biệt. Quyết định về đặc xá là văn bản do Chủ tịch nước ban hành quy định thời điểm đặc xá, đối tượng, điều kiện của người được đề nghị đặc xá và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện đặc xá

    Trả lờiXóa
  19. Người Việt Nam luôn rộng lượng, nhân văn với những kẻ lầm đường lạc lối. Chính sách đặc xá ngày 2-9 hàng năm đã thành thông lệ thể hiện chính sách khoan hồng cho ra tù sớm trước thời hạn với những phạm nhân cải tạo tốt, điều đó đã mở ra cơ hội hòa nhập với cộng đồng, gia đình họ. Những kẻ vô trách nhiệm với xã hội với có những nhận xét thiếu lương tri như vậy. Bọn rận luôn bóp méo vấn đề Đặc xá rêu rao này nọ là lũ cặn bã rác rưởi, không đóng góp được gì chỉ chăm đi phá hoại.

    Trả lờiXóa
  20. đặc xá là chính sách khoan hông của nhà nước nhân những dịp kỉ niệm lớn , đem lại tự do cho những người tù đã đủ điều kiện và có sự cải tạo tốt , giúp họ sớm trở lại làm lại cuộc đời , thế mà các nhà dân chủ vẫn đem ra xuyên tạc được thì giỏi thật đấy , đúng là chỉ có đầu óc của kẻ bán nước mới nghĩ được ra như vậy

    Trả lờiXóa
  21. xuyên tạc cả những thứ tốt đẹp như chính sách khoan hồng để nhằm nói xấu bôi nhọ đảng và chính quyền nhà nước , những nhà rận chủ này đúng là cái gì cũng có thể nói ra được rồi , chỉ cần có tiền bơm vào từ hải ngoại là họ sẵn sàng làm bất cứ thứ gì nhằm chống phá nhà nước ta

    Trả lờiXóa
  22. xuyên tạc , ăn vạ với vu khống là nghề của đám rận chủ này rồi , chính sách khoan hông đem lại niềm vui , sự tự do cho hàng chục ngàn tù nhân cùng gia đình , ấy thế mà chúng vẫn có thể đem ra chửi được thì rõ ràng là chúng không hề đứng từ vị trí của nhân dân mà là từ vị trí của những kẻ phản động bán nước rồi ,

    Trả lờiXóa

 
Nhân quyền © 2012 | Designed by True Happy
.