on 16:22:00

BÀI HỌC TỪ BA ĐẤT NƯỚC VƯƠN LÊN THẦN KỲ SAU CHIẾN TRANH

Nhãn: ,

Chúng ta đều biết Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc,  đã từng là trong số ít nền kinh tế đạt được thành tích tăng trưởng kinh tế đặc biệt xuất sắc sau khi chiến tranh tàn phá. Về nguyên tắc, để học hỏi và vận dụng kinh nghiệm phát triển của các nền kinh tế đã phát triển nói chung, và của 3 nước trên nói riêng một cách hiệu quả nhất, việc cần thiết trước tiên là tìm hiểu và nhận diện những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai nền kinh tế Việt Nam và 3 nước kể trên. Đây là việc làm không dễ, bởi theo một nghĩa nào đó, các nền kinh tế riêng rẽ luôn là những thực thể cá biệt, có lịch sử phát triển độc nhất vô nhị. Nhưng dẫu sao thì những quy luật kinh tế chung vẫn đặt ra trước các nhà quản lý ở khắp mọi nơi những yêu cầu mang tính tất yếu “thép” khi đề ra các chính sách phát triển. Vì vậy, cách tốt nhất để học hỏi kinh nghiệm, cả bài học thành công lẫn không thành công, nên tham chiếu tình hình kinh tế hiện tại của Việt Nam với giai đoạn có trình độ phát triển tương đồng trước đây của Đức, Nhật, Hàn Quốc.         
BÀI HỌC TỪ BA ĐẤT NƯỚC VƯƠN LÊN THẦN KỲ SAU CHIẾN TRANH
Ảnh minh họa. Nguồn: Nguyentandung.org
Trí tuệ của người Đức
          Chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, nước Đức của Hitler bại trận kéo theo những hậu quả thật khó hình dung: nền công nghiệp thuộc loại hàng đầu chỉ còn lại 20%, gần phân nửa nhà cửa bị xóa sạch, 12% dân số tử vong, nạn đói kéo dài ba năm mà cao điểm là vào mùa đông 1946, lạm phát phi mã, trao đổi mua bán chủ yếu là ở các khu chợ trời, trộm cắp hoành hành khắp nơi.
          Bức tranh kinh tế xã hội càng u ám hơn khi nước Đức bại trận phải chịu những khoản bồi thường chiến tranh vượt quá tiềm năng và bị chia cắt thành bốn vùng chiếm đóng của phe đồng minh chiến thắng áp đặt thể chế của riêng mình, điều đó trong thực tế là sự chia cắt đất nước thành hai miền Đông - Tây với hai chế độ chính trị đối lập.
          Vậy mà chỉ 11 năm sau khi thành lập nước cộng hòa liên bang vào năm 1949, dân tộc Đức đã có những bước dài phát triển mà các nước phải ngưỡng mộ và nay trở thành nền kinh tế thứ ba của thế giới, là đầu tàu của châu Âu.
          Đúc kết quá trình hồi sinh thần kỳ của một nước Đức mới, nhiều nhà phân tích cho rằng đó là sự tổng hòa của ba yếu tố căn bản mang thuộc tính của dân tộc Đức.
          Trước hết đó là sự khôn khéo vận dụng hoàn cảnh lịch sử, vừa nhẫn nhục, vừa âm thầm nỗ lực tìm kiếm con đường đi riêng. Người Đức đã tận dụng được sự khác biệt của các nước chiếm đóng, đặc biệt là giữa người Mỹ và người Nga ở hai cực ý thức hệ, để có được sự hỗ trợ kinh tế qua kế hoạch Marshall của Hoa Kỳ vào năm 1948, dùng các khoản viện trợ làm vận tốc đầu cho cuộc hồi sinh ngoạn mục, trong điều kiện một cuộc Chiến tranh lạnh đang manh nha.
          Thứ hai, đó là nhờ vào vốn tri thức quá lớn mà cho dù hàng loạt tài năng xuất chúng trên nhiều lĩnh vực bỏ nước ra đi trước và sau chiến tranh như Sigmund Freud, Von Braun… nhưng vẫn còn quá nhiều trí thức - được thuyết phục bởi các chính sách sử dụng chất xám đã không ngừng chung sức cho một nước Đức hùng cường. Sự hình thành của chủ thuyết kinh tế thị trường xã hội với ba nhân vật chủ chốt Walter Eucken, Alfred Muller Armack và Ludwig Erhard – người sau này làm Thủ tướng lèo lái con tàu kinh tế Đức từ 1963-1966 – là một điển hình sống động.
Kinh tế thị trường xã hội (Social Market Economy - khác với kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam) là một nền kinh tế hướng tới ba mục đích vốn là tiền đề phát triển lành mạnh, đó là (1) phục vụ tự do con người; (2) công bằng và an ninh xã hội và (3) hòa hợp giữa mọi xu hướng xã hội.
          Yếu tố thứ ba đó là một nền dân chủ pháp trị - pháp quyền được hình thành ngay sau khi thành lập một nước cộng hòa liên bang, thoát khỏi sự kìm kẹp của lực lượng chiếm đóng.
          Tất cả tạo nên một bản hợp ca hoàn chỉnh: nước Đức thống nhất hai miền Đông Tây sau “cuộc bỏ phiếu bằng đôi chân”.
          Nhật bản - bài học về giáo dục và tiết kiệm
          Khi hai trái bom nguyên tử của Mỹ ném xuống Hiroshima và Nagasaki vào tháng 8-1945 thì Chiến tranh thế giới thứ 2 đã thật sự chấm dứt trên một nước Nhật điêu tàn: 3 triệu người chết và mất tích, 40% đô thị bị phá hủy - trong đó những thành phố lớn như Tokyo, Osaka, Nagoya, Kobe, Kagoshima trở thành bình địa.
Bại trận phải ký hiệp ước đầu hàng phe đồng minh, Nhật mất tất cả từ các thuộc địa trước đây lẫn chủ quyền vì là nước bị chiếm đóng. Cũng như người đồng minh Đức, những khoản bồi thường chiến tranh càng không cho thấy đất nước Phù Tang có thể nhanh chóng phục hồi nội lực.
          Nhưng người dân Nhật không mất ý chí. Kẻ bại trận ý thức về thân phận của mình nên mang niềm tin và hy vọng về sự trỗi dậy của đất nước nghèo nàn về tài nguyên. Câu chuyện thần kỳ của Nhật được biết đến khi chỉ 10 năm sau chiến tranh, kinh tế đã khởi đầu khôi phục, rồi 10 năm tiếp theo là thời kỳ phát triển thần tốc với mức tăng trưởng bình quân 10%. Năm 1968 Nhật trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới và chỉ chịu nhường vị trí này cho Trung Quốc khoảng ba năm trở lại đây, do không vượt qua nỗi khắc nghiệt của cơn khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Có người cho rằng, sự đi lên từ đống tro tàn của người Nhật là nhờ tinh thần kiên nhẫn vốn có, trong khi các cường quốc lao vào cuộc chạy đua vũ trang thì người Nhật tập trung vào phát triển kinh tế, nhẫn nhục trên con đường tìm đến thịnh vượng. Kẻ bại trận ý thức về thân phận của mình nên nặng lòng về sự trỗi dậy của một đất nước luôn nuôi dưỡng niềm tin và hy vọng.
          Tinh thần tiết kiệm được xem là đặc tính nổi trội so với nhiều dân tộc khác, sau chiến tranh lại càng đậm nét trong xã hội. Trẻ con Nhật không được dạy dỗ một cách hoang tưởng về sự giàu có “rừng vàng biển bạc” mà về sự nghèo khó sau chiến tranh của một đất nước khan hiếm tài nguyên thiên nhiên nên mọi người đều phải biết tiết kiệm trong mọi hoạt động đời sống.
          Kỳ tích sông Hàn
          Cuộc chiến tranh hai miền Nam - Bắc Triều Tiên kéo dài ba năm, kết thúc vào năm 1953 đã tàn phá Hàn Quốc dữ dội, nhiều thành thị chỉ còn là đống tro tàn. Vào thời điểm ấy, thu nhập bình quân đầu người chỉ vào khoảng 67 đô la Mỹ, nhiều vùng nông thôn buộc phải ăn đến cọng rau ngọn cỏ, phải lên núi kiếm thức ăn. Đó là những tháng năm cùng cực đói nghèo.
          Nhưng người Hàn không đầu hàng số phận, họ biết tận dụng những khoản viện trợ của cộng đồng quốc tế, trong đó chỉ riêng viện trợ của Hoa Kỳ đã chiếm đến hơn 30% ngân sách chính phủ. Người Mỹ đã giúp Hàn Quốc cho đến năm 1957 và họ đã chọn đúng đất nước biết sử dụng hiệu quả những khoản tiền vào nền công nghiệp tạo sức bật kinh tế sau này.
          Sau khi hàng loạt tuyến đường sắt được xây dựng từ sự giúp đỡ tiền bạc của quốc tế, mạch máu kinh tế của đất nước thuộc vào hàng nghèo nhất thế giới bắt đầu nhịp đập cho sự phục hồi sau chiến tranh.
          Một nền kinh tế tự chủ được sự đồng thuận sau khi nhiều ý kiến yêu cầu chính phủ bớt dần sự lệ thuộc vào viện trợ nước ngoài, theo đó tập trung phát triển công nghiệp và kích thích tiêu dùng hàng trong nước bằng các giải pháp dứt khoát xem hàng tiêu dùng ngoại nhập là xa xỉ. Không hô khẩu hiệu, nhưng chính khát vọng xây dựng một đất nước độc lập tự chủ và cường thịnh đã đưa Hàn Quốc trở thành nền kinh tế thứ ba của châu Á và thứ 13 thế giới.
          Sau 40 năm gây ngạc nhiên bằng tốc độ tăng trưởng bình quân 7,6%, người Hàn Quốc đã vượt châu Âu với thu nhập bình quân đầu người hơn 32.000 đô la Mỹ. Sản phẩm công nghiệp của Hàn Quốc chinh phục người tiêu dùng khắp nơi trên thế giới.
          Người Hàn Quốc đã lấy giáo dục làm bệ phóng đưa cả dân tộc đi lên. Tổng thống đầu tiên của Hàn Quốc Lee Sung Man (Lý Thừa Vãn) nguyên là một nhà giáo dục, xuất thân là tiến sĩ triết học tại Đại học Princeton của Mỹ. Ngay cả trong thời kỳ chiến tranh Liên Triều, ông vẫn hết lòng cho sự nghiệp giáo dục.
          Người Hàn đã biết tận dụng tính ưu việt của nền giáo dục Nhật Bản có bề dày hàng trăm năm. Người Hàn không có khái niệm làm chủ tập thể nhưng ý thức rõ ràng trước khi làm chủ phải biết làm thuê, học tính kỷ luật và đạo đức của các xã hội văn minh với các chương trình “dạy làm người” và “dạy làm ăn”.
          Trong khi kinh tế Nhật Bản phát triển với tốc độ phi mã trong hai thập niên sau chiến tranh để trở thành nền kinh tế thứ hai thế giới vào đầu thập niên 70 thế kỷ trước, thì Hàn Quốc với xuất phát điểm thấp hơn cũng đã trở thành con rồng kinh tế vào đầu thập niên 1990.
            Có thể xem những bài học của 3 đất nước trên là những nội dung quan trọng và nên xem xét học hỏi, chia sẻ và vận dụng một cách sáng tạo kinh nghiệm của các nước này để tìm kiếm các cơ hội phát triển. Thiết nghĩ, trong những năm trước mắt, nhiệm vụ trọng tâm của Việt Nam là tiến hành tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Đây là một cơ hội tốt để vừa xem xét lại những bài học kinh nghiệm, chính sách của Việt Nam trong gần 30 năm đổi mới, lại vừa tham khảo, vận dụng tốt những bài học kinh nghiệm quốc tế, trong đó có kinh nghiệm phát triển của Đức, Nhật, Hàn Quốc, với hy vọng tạo nên một “Kỳ tích sông Hồng” trong tương lai không xa.
                                                                                                       Lê Minh

12 nhận xét:

  1. Đúng là nước ta với các nước trên đều có chung một cái là đều chịu sự tàn phá của chiến tranh, người ta có quyền đặt câu hỏi tại sao họ có thể bứt phá thần kỳ như vậy còn chúng ta lại chưa thể có bước đột phá như họ. Không khó để lý giải điều đó khi nhìn vào hoàn cảnh của chúng ta và họ, chúng ta giành được hòa bình nhưng lại chịu sự cấm vận của Mỹ suốt một thời gian dài, điều này đã kìm kẹp sụ phát triển của chúng ta rất nhiều, và một điều khác nữa là nền tảng của mỗi nước cũng khác nhau.

    Trả lờiXóa
  2. Nhìn 3 đất nước có những bước tiến vươn lên mạnh mẽ sau chiến tranh, Việt nam có thể học hỏi, áp dụng một cách sáng tạo vào tình hình thực tế của đất nước ta. Việc học hỏi có sự chọn lọc sẽ góp phần to lớn trong việc đưa đất nước ta phát triển. Những bài học có chọn lọc sẽ chẳng bao giờ là bài học thừa.

    Trả lờiXóa
  3. Mọi sự so sánh đều là khập khiễng, nhưng sự thật cho thấy rằng có rất nhiều minh chứng cho việc phát triển vượt bậc, lột xác của các quốc gia sau chiến tranh tàn khốc. Việt Nam cũng bị chiến tranh kiềm hãm, làm chậm phát triển hàng chục, hàng trăm năm. Chúng ta cần học hỏi kinh nghiệm, chọn con đường phát triển đúng đắn và hơn hết là đoàn kết, đồng lòng để đất nước ngày càng lớn mạnh hơn.

    Trả lờiXóa
  4. Kỳ tích là cái mà ai cũng muốn , nhưng xét đi cũng phải xét lại , với một đất nước như Việt Nam việc phát triển kinh tế luôn bị các nước Đế Quốc Tư Bản chèn ép , mà mọi nguồn nảy sinh từ việc nước ta có mâu thuẫn với các cường quốc về chế độ và tư tưởng . Vì vậy trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam khi mà mở rộng quan hệ với quốc tế gặp khó khăn rất nhiều . Nhưng dù sao vẫn mong rằng sẽ có một kỳ tích được tạo ra như tác giả đã nêu .

    Trả lờiXóa
  5. Việc học hỏi là rất cần thiết vì như vậy đất nước ta có thể học hỏi được những kinh nghiệm hay từ các đất nước có sự tàn phá khốc liệt của chiến tranh để vươn lên, phát triển được như đất nước bạn.

    Trả lờiXóa
  6. Chúng ta là một đất nước phát triển sau , là một lợi thế để áp dụng ưu điểm của các nước đã đi trước . Tuy rằng để so sánh thì nó hoàn toàn là một sự khập khiễng , bởi hoàn cảnh đất nước ta quá khác với đất nước trên . Nhưng việc hy vọng vào một kỳ tích trong phát triển đất nước không phải là cái gì quá mơ hồ . Tôi nghĩ nó có thể thực hiện và thành công ở Việt Nam

    Trả lờiXóa
  7. Nhận xét này đã bị tác giả xóa.

    Trả lờiXóa
  8. Đúng là sự phát triển nhanh của Hàn Quốc, Nhật Bản, Đức sau những cuộc chiến tranh đúng là chúng ta phải có sự học hỏi, các nước này đã vươn lên rất nhanh nó giúp cho người dân sống rất ổn định, chúng ta là một nước đi sau thì cần có sự học hỏi kinh nghiệm, tiếp thu những thành tựu của họ có như vậy đất nước ta mới thực sự phát triển

    Trả lờiXóa
  9. Học hỏi các nước đi trước lúc nào cũng là một việc làm quan trọng, muốn phát triển như các nước thì việc tiếp thu kinh nghiệm là điều rất cần thiết, các nước đã có sự phát triển thần kì, làm chúng ta phải khâm phục và ngưỡng mộ, nhưng cũng phải nói rằng Việt Nam cũng đang phát triển rất năng động, trong tương lai có thể đuổi kịp các nước trên.

    Trả lờiXóa
  10. Học hỏi các nước đi trước lúc nào cũng là một việc làm quan trọng, muốn phát triển như các nước thì việc tiếp thu kinh nghiệm là điều rất cần thiết, các nước đã có sự phát triển thần kì, làm chúng ta phải khâm phục và ngưỡng mộ, nhưng cũng phải nói rằng Việt Nam cũng đang phát triển rất năng động, trong tương lai có thể đuổi kịp các nước trên.

    Trả lờiXóa
  11. Sự vươn lên mạnh mẽ của Hàn Quốc, Nhật bản đúng là để chúng ta học hỏi, nhưng cũng cần phải nói rằng chúng ta và 2 nước trên đặt trong những bối cảnh khác nhau, không phải hoàn toàn giống nhau nên sự phát triển sẽ có sự chênh lệch, nhưng theo tôi nghĩ thì Việt Nam chẳng mấy chốc mà tiến kịp các nước, vì Việt Nam phát triển cũng rất năng động

    Trả lờiXóa
  12. Đây đúng là những bài học kinh nghiệm quý báu cho chúng ta học hỏi. Nhưng để có thể làm được như các nước bạn thì lại là không phải dễ dàng gì. Nó sẽ là cả một quá trình cho chúng ta phấn đấu. Đất nước sẽ tiến bộ nhanh hơn khi mỗi người dân biết "phát triển" không ngừng.

    Trả lờiXóa

 
Nhân quyền © 2012 | Designed by True Happy
.