on 11:22:00

CÓ MỘT TRƯỜNG SA DUNG DỊ TRONG THƠ CA

Nhãn: , , ,

Trường Sa- hai tiếng thiêng liêng mà xúc động. Và có một Trường Sa trong thơ cũng rất dung dị với những cảm xúc chân thành và đằm sâu của các nhà thơ khi gửi gắm tình yêu vào câu chữ . Qua thơ về Trường Sa đã lay động, đã chạm đến đến những tình cảm thầm kín nhưng thiêng liêng của mỗi con người và khơi dậy trong mỗi chúng ta những cảm xúc và niềm tự hào chứa chan đến nhường vậy với Trường Sa yêu thương…..
Lễ chào cờ thiêng liêng trên quần đảo Trường Sa
Lễ chào cờ thiêng liêng trên quần đảo Trường Sa
            
Tình yêu đầu tiên của  tôi với Trường Sa là trong những buổi tối thật yên bình bên chiếc đài  nhỏ lắng nghe từng âm hưởng của bài hát “Gần lắm Trường Sa”. Âm điệu và từng câu chữ có thể làm xúc động bất kỳ ai vì bài hát đã mang Trường Sa đến rất gần và thấy yêu Trường Sa nhiều đến thế: 
             Mỗi cánh thư về từ đảo xa
              Anh thường nói rằng Trường Sa xa lắm em ơi
              Nơi anh đóng quân là một vùng đảo nhỏ
            Bên đồng đội thân yêu .Chỉ có loài chim biển, sóng vỗ điệp trùng quanh ghềnh trúc san hô”
          Qua thơ ca chắc chắn đã có nhiều, nhiều người lắm ít nhất một lần sẽ rưng rưng khi đọc dòng thơ: 
                   “Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển
                    Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng
                    Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa
                    Trong hồn người có ngọn sóng nào không”
            Bởi vì Trường Sa gần gụi vậy, yêu thương vậy, nhưng để có bình yên đó đã phải hy sinh bằng biết bao máu và thương đau: 
                  “Biển dẫu yên mà lòng ta lại động
                   Lắng tin xa những cơn bão chập chờn
                   Bỗng hiển hiện trang sử thời mở cõi 
                Máu cha ông còn bầm đỏ hoàng hôn….(Tổ quốc nhìn từ biển của Nguyễn Việt Chiến).
                  “Thương đất nước trên ba ngàn hòn đảo
                   Suốt ngàn năm bóng giặc vẫn chập chờn
                   Máu đã đổ ở Trường Sa ngày ấy
                Bạn tôi nằm dưới sóng mặn vùi thân (Nguyễn Thế Kỷ trong “Thao thức Trường Sa”
Nhưng sóng biển Trường Sa mãi ngàn đời chỉ mãi biết yêu thương, bất chấp lòng người mang đầy sóng dữ: 
     Ơi biển Việt Nam! Ơi sóng Việt Nam!
        Qua bao nhiêu thăng trầm mà chiều nay vẫn dịu dàng
        Vùi sâu dưới đáy những gì đau thương
        Biển lại hát tình ca biển kể chuyện quê hương”. 
Những cảm xúc về Trường Sa trở nên là những cảm xúc đằm sâu nhất khi luôn có những tình yêu đẹp dung dị trong thơ đồng nhịp với tình yêu  biển đảo.  Bởi tình yêu giữa những cô gái đất liền với chàng trai lính đảo là tình yêu của những hy sinh vĩ đại ở nơi người con gái và những cảm xúc chân thành, giản dị mà da diết của người lính vẫn luôn chắc tay súng mà lòng nhớ người yêu, nhớ đất liền đến quay quắt khi đứng trước nơi đầu sóng ngọn gió. 
      “Anh đứng gác. Trời khuya. Đảo vắng
   Biển một bên và em một bên” (Thơ tình người lính biển- Trần Đăng Khoa) 
       Và “Có tình em tim anh thêm thắm đỏ
              Làm một cây đèn biển sáng trời xa”
Và dường như trước biển ta trở nên yêu mọi thứ, con người trở nên nhỏ bé và cảm thấy yêu hơn bao giờ hết hai từ đất mẹ. 
     “Trước Trường Sa thấy mình bé nhỏ
       Tựa cột mốc chủ quyền thêm vững lòng hơn
       Ngắm rặng mồng tơi, nghe gà cục tác
       Tổ quốc giữa trùng khơi sinh nở, trường tồn.”
Tình yêu biển đảo, tình yêu đất nước thật sự đã đưa chúng ta đến với những mạch nguồn xúc cảm giản dị, trong sáng nhưng lại đằm sâu những nghĩ suy, trăn trở và cả niềm tự hào có thể gọi thành tên. Tôi xin kết thúc những dòng suy tư của mình về Trường Sa bằng những  câu trong bài hát Biển hát chiều nay:
                   Mỗi một tình yêu, mỗi một cuộc đời
      Qua bao nhiêu thăng trầm lửa thử vàng mới nên người
      Biển xanh vẫn nhắc những lời yêu thương
      Biển lại hát tình ca biển kể chuyện quê hương"
                                                                                                                          Hungbin

18 nhận xét:

  1. Trường sa luôn là một nơi đẹp nhất, luôn là một nơi tuyệt vời nhất trong lòng mỗi con người việt nam. tôi nói như vậy không phải là vì vẻ đẹp thiên nhiên của nó, mà nó đẹp là vì cả một quá trình xây dựng và giữ nước trong hiện tại và cả quá khứ, trường sa là một quần đảo đáng nhớ, để lại trong lòng chúng ta những sự tôn kính.

    Trả lờiXóa
  2. NHỮNG SỰ THẬT CẦN PHẢI BIẾT - (Phần 25) - LÊ ĐỨC ANH - KẺ BÁN NƯỚC

    Lê Đức Anh là một tên cai phu cao su có nhiều tội ác với những người dân lành. Đây là kẻ đã từng tiếp tay cho thực dân Pháp đánh đập nhân dân ta. Đó là tội ác không thể dung tha. Đặc biệt, Lê Đức Anh có vai trò rất quan trọng trong việc bán nước của đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó chúng ta cần phải thấy rõ được bộ mặt thật của Lê Đức Anh để nhân dân một ngày gần đây xét xử trước công luận về tội ác này. Đó chính là lẽ phải và chính nghĩa mà chúng ta phải đấu tranh vì một dân tộc Việt Nam trường tồn mãi mãi...

    I. Ác ôn giả danh dân lành:

    1. Lý lịch hiện nay:

    Theo tài liệu được cung cấp trên trang chính của báo điện tử cộng sản thì Lý lịch của Lê Đức Anh như sau:

    “Họ và tên: Lê Đức Anh
    Bí danh: Sáu Nam
    Ngày sinh: 1920
    Quê quán: xã Bàn Môn, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế
    Ngày tham gia cách mạng: 1937
    Ngày vào Đảng: 30-5-1938
    Trình độ học vấn: Văn hóa lớp 7/10, Lý luận chính trị: Trường Đảng Việt Bắc, Học viện Quân sự cao cấp Liên Xô.

    TÓM TẮT QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC

    Từ 1937 đến 1945: Tham gia phong trào dân chủ ở Phú Vang, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 5/1938, Chỉ huy quân đội vũ trang ở Thủ Dầu Một; Trung đội trưởng, Chính trị viên đại đội, Chính trị viên tiểu đoàn, Trung đoàn ủy viên, Tỉnh ủy viên Thủ Dầu Một, Ủy viên Ban Chấp hành cao su Nam Bộ.

    Từ 10/1948 đến 1950: Được cử giữ các chức vụ: Tham mưu trưởng Khu 7, Khu 8; Khu Sài Gòn-Chợ Lớn, Quân khu ủy viên.

    Từ 1/1951 đến 1975: Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Nam Bộ, Cục phó Cục Tác chiến, Cục phó thứ nhất Cục Quân lực, Cục trưởng Cục Quân lực, Phó Tổng tham mưu trưởng, Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Miền, Tư lệnh Quân khu 9, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Miền, Trung tướng (1974).

    Từ 1975 đến 1976: Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, Tư lệnh cánh quân Tây Nam, Tư lệnh Quân khu 9, Bí thư Quân khu ủy, Đại biểu Quốc hội khóa VI.

    Từ 12/1976: Tại Đại hội IV được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tư lệnh kiêm chính ủy Quân khu 7 (1978), Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thượng tướng (1980).

    Từ 6/1981: Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia. Tại Đại hội V (3/1982) của Đảng được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu vào Bộ Chính trị, Đại tướng (1984). Từ tháng 2/1987 tháng 9/1992: Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, tại Đại hội VI (12/1986) và Đại hội VII (6/1991) được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu vào Bộ Chính trị. Đại biểu Quốc hội khóa VIII.

    Từ 1992: Được Quốc hội khóa IX bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tại Đại hội VIII (6/1996), được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu vào Bộ Chính trị, giữ chức Chủ tịch nước.

    Từ 12/1997: Được Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) cử làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.”.

    Theo tài liệu dạy lịch sử tóm tắt của cộng sản Việt Nam thì tiểu sử tóm tắt của Lê Đức Anh như sau: “Lê Đức Anh (sinh 1920), nhà hoạt động quân sự, chính trị Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam; đại tướng. Quê làng Bàn Môn, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Tham gia cách mạng từ 1937. Đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương. Tổ chức và phụ trách các nghiệp đoàn cao su ở Lộc Ninh, các đồn điền Quản Lợi, Xa Cam, Xa Cát, Xa Trạch (1944).

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 2)

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Lê đức Anh là 1 con người có rất nhiều đóng góp cho nhân dân cho đất nước, cả cuộc đời làm rất nhiều việc tốt cho nhân dân, đánh đông dẹp bắc chiến công lừng lẫy thì có gì là sai hả, tại sao thằng này không hiểu cho bác ấy nhỉ, dù có thề nào đi chăng nữa thì ông ấy cũng là vị anh hùng dân tộc còn chúng mày cũng chỉ là cái lũ bán nước mà thôi

      Xóa
  3. (Lê Đức Anh-phần 2)

    Gia nhập lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam (8.1945). Thời kì 1945 - 54, đã kinh qua các chức vụ từ cấp trung đội, đại đội, tiểu đoàn, chi đội, trung đoàn, tham mưu trưởng Khu VII, Khu VIII, Khu Sài Gòn - Chợ Lớn, tham mưu phó rồi quyền tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Cục phó Cục Tác chiến, cục trưởng Cục Quân lực Bộ Tổng tham mưu, phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Quân giải phóng Miền Nam (1964 - 68). Tham gia chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Jansơn Xiti (Junction City)) của Mĩ vào căn cứ của Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền ở Tây Ninh (1967); đánh vào khu vực Chợ Lớn trong cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968. Tư lệnh Quân khu IX (1969 - 74). Phó tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh, kiêm tư lệnh cánh quân Tây Nam đánh vào Sài Gòn (1975). Từ 5.1976 đến 1978, tư lệnh Quân khu IX, tư lệnh kiêm chính ủy Quân khu VII. Thành viên của Ban Lãnh đạo chuyên gia và Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia (2. 1979). Tháng 12.1986 - 87, tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm phó bí thư Quân ủy Trung ương. Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992 - 97). Ủy viên Bộ Chính trị (khóa V - VIII); Bí thư Trung ương Đảng khóa VII, ủy viên thường vụ Bộ Chính trị (6.1996 - 12.1997). Đại biểu Quốc hội các khóa VI, VIII, IX. Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (12.1997 - 4.2001). Huân chương Sao vàng, huân chương Quân công hạng nhất, huân chương Chiến thắng hạng nhất và nhiều huân, huy chương khác.” (1)

    Ngoài ra trên wiki tiếng Việt (có sự chấp thuận của cộng sản) thì lý lịch của Lê Đức Anh cũng không có gì khác so với bản lý lịch nêu trên. Nó chỉ có thêm 2 chi tiết chính đó là Lê Đức Anh có bí danh Sáu Nam và nhắc tới con trai là Lê Mạnh Hà, Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Con trai là Lê Sỹ Hiệp, Vụ trưởng, Thư ký Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. (2)

    Qua 3 tài liệu của cộng sản ta có thể thấy lý lịch của Lê Đức Anh khá sạch. Nhưng sự thật có phải như thế không? Chúng ta sẽ được thấy ngay sau đây.

    2. Lý lịch bất minh:
    Lý lịch của Lê Đức Anh đã được chính các cán bộ cộng sản đề nghị xem xét vì có nhiều bất minh. Hãy theo dõi những tài liệu dưới đây để thấy điều này.

    Thứ nhất, về các bản khai lý lịch của Lê Đức Anh đã cho thấy sự mâu thuẫn. Sau đây là lược trích dẫn nội dung thư của 3 tướng cộng sản Phùng Thế Tài, Lê Tự Đồng và Nguyễn Quyết như sau:

    Một tài liệu tháng 11-1976, khi Lê Đức Anh tham gia Đại hội 4 và được đề cử vào Ban chấp hành Trung ương. Lúc đó Lê Đức Anh là Tư lệnh Quân khu 9. Tài liệu này ghi:

    “- Thành phần gia đình: Trung nông; Bản thân: Viên chức
    - Tham gia cách mạng: 1937
    - Vào Đảng: 7 - 1945
    - Chính thức: 8 - 1945

    Bản thân học đến năm 1937, ra dạy tư ở Phú Vang, được kết nạp Đảng vào năm 1938, nhưng chưa sinh hoạt chi bộ. Giữa năm 1939, người anh rể (Hồ Văn Nguyên) bị bắt nên mất liên lạc. Cuối năm 1939 vào Hội An, năm 1940 vào Đà Lạt - Lộc Ninh. Tháng 11 năm 1944 tiếp mối liên lạc hoạt động trong công nhân cao su. Tháng 7-1945 được giao nhiệm vụ chuẩn bị khởi nghĩa. Lấy đó làm ngày kết nạp và lấy ngày 30-8-1945 là ngày làm Tỉnh ủy viên Thủ Dầu Một làm ngày chính thức”.

    Một tài liệu nữa làm tháng 8 - 1986 trước Đại hội 6. Lúc đó Lê Đức Anh là Trưởng ban lãnh đạo Đoàn chuyên gia giúp Campuchia, Ủy viên Bộ Chính trị. Trước đó Lê Đức Anh là Tư lệnh Quân khu 7. Tài liệu này ghi như sau:

    “- Thành phần gia đình: Trung nông
    - Bản thân: Công nhân
    - Ngày và nơi tham gia cách mạng: 1937
    - Ngày nhập ngũ: Tháng 8 - 1945
    - Ngày vào Đảng: 30 - 5 - 1938
    - Ngày chính thức: 05 - 10 - 1938

    1937: Tham gia phong trào Bình Dân ở Phú Vang, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 5 năm 1938. Giữa năm 1939, địch khủng bố mất liên lạc, vào Hội An, Đà Lạt, Thủ Dầu Một làm ăn. 4-1944: Được giao các nghiệp đoàn cao su ở Lộc Ninh, Quảng Lợi. 8-1945: Chỉ huy quân đội vũ trang Thủ Dầu Một, làm trung đội trưởng, chính trị viên đại đội, chính trị tiểu đoàn, chính trị viên chi đội 1, sau là trung đoàn 301, trung đoàn ủy viên, Tỉnh ủy viên Thủ Dầu Một”.

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 3)

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. đúng là cái bọn ngậm máu phun người, chúng mày cũng giỏi đào mộ người ta lên nhỉ, hôm trước thì Tướng Ngọ qua đời bọn mày cũng dựa vào cái chết của bác ấy để làm âm mưu chính trị, để tạo phản đến người chết mà bọn mày cũng không tha, không có người ta được nhắm mắt,t thật không hiểu được bọn mày là cái loại gì nữa

      Xóa
    2. cái thằng @lịch sử việt nam này là thằng ăn cháo đá bát, tại sao bố mẹ lại sinh ra được thằng con quái thai như thế này nhỉ, thật không ngờ nuôi nó lên tốn bao nhiêu là cơm áo gạo tiền mong nó được khôn lớn thành người sau này sẽ giúp ích cho xã hội ấy vậy mà chắc là bố mẹ thất vọng về nó lắm

      Xóa
  4. (Lê Đức Anh-phần 3)

    Rõ ràng 2 bản lý lịch khai ngày vào đảng khác nhau và từ đó có 1 số vấn đề xảy ra khiến các quan chức cộng sản kỳ cựu đặt vấn đề. Phải nói rằng, trong công tác Đảng viên của cộng sản thì vấn đề Đảng tịch bất cứ thời kỳ nào cũng là vấn đề quan trọng hàng đầu. Điều lệ Đảng quy định: “Đảng viên chỉ được tính tuổi Đảng từ khi được kết nạp Đảng chính thức. Có nghĩa rằng chỉ có thể chính thức được công nhận là Đảng viên từ ngày được chi bộ chính thức kết nạp”.

    Trong bản tóm tắt lý lịch lần thứ nhất (tháng 11 - 1976) của Lê Đức Anh có ghi rõ: chưa sinh hoạt chi bộ. năm 1939 thì mất liên lạc. Cho dù được kết nạp dự bị năm 1938 thì cũng không thể kết nạp chính thức, vì chưa sinh hoạt chi bộ. Bản tóm tắt lý lịch này còn ghi là: “Tháng 11 - 1944 tiếp mối liên lạc hoạt động trong công nhân cao su”. Vậy, tiếp nối liên lạc hoạt động gì? Hoạt động Đảng là hoạt động với tư cách đảng viên chính thức hay đảng viên dự bị? Giả định đã tiếp mối liên lạc về Đảng thì sau đó hoặc là được kết nạp dự bị lại, hoặc là sau một thời gian thử thách được chính thức kết nạp vào Đảng. Trong tóm tắt lý lịch tháng 11-1976 không nói điều này. Xin lưu ý là từ tháng 4 - 1944 đến tháng 7 - 1945 là 1 năm 3 tháng. Lúc đó đang là cao trào cách mạng tiền khởi nghĩa, có vùng Đảng đã hoạt động bán công khai. Bản tóm tắt lý lịch tháng 11 - 1976 còn ghi là: “Tháng 7-1945 được giao nhiệm vụ chuẩn bị khởi nghĩa. Lấy đó làm ngày kết nạp và lấy ngày 30-8-1945 là ngày làm Tỉnh ủy viên Thủ Dầu Một làm ngày chính thức”. Việc dùng từ “lấy đó” chính là việc mập mờ kết nạp và chưa kết nạp đảng của Lê Đức Anh.

    Bản tóm tắt lý lịch tháng 11-1976 ghi: Thành phần là “viên chức”. Viên chức là thuộc thành phần tiểu tư sản. Được kết nạp năm 1938, nhưng không có ngày. Điều lệ Đảng cộng sản trước đây quy định: “Thời gian dự bị của những người được kết nạp Đảng thành phần tiểu tư sản là 6 tháng. Còn xuất thân thành phần công nhân thời gian dự bị là 3 tháng”. Cho nên khi khai ngày kết nạp (dự bị) là 30 - 5 - 1938 và ngày chính thức là 05-10-1938 (cách nhau 4 tháng 6 ngày thì tất nhiên kèm theo đó phải khai tụt xuống là xuất thân công nhân). Vì nếu xuất thân viên chức thì thời gian dự bị phải là 6 tháng. Rõ ràng là Lê Đức Anh khai man lý lịch. Bản tóm tắt lý lịch tháng 11 - 1976 ghi: “Tham gia Mặt trận Bình Dân, bị địch khủng bố mất liên lạc vào Nam Bộ làm ăn. Tháng 4-1944, tiếp tục hoạt động”. Như vậy là chỉ nói tham gia Mặt trận Bình Dân, không nói rõ tham gia Đảng. Chỉ nói “mất liên lạc vào Nam Bộ làm ăn. Tháng 4-1944 tiếp tục hoạt động”. Như vậy là từ năm 1939 đến tháng 4 năm 1944 làm ăn, không hoạt động gì, thời gian đó là hơn 5 năm. 5 năm không phải là thời gian ngắn.

    Bản tóm tắt lý lịch tháng 11-1976 như vậy, thế thì làm sao lại có thể sinh ra trong bản tóm tắt lý lịch lần 2: “ngày vào Đảng là ngày 30-5-1938, ngày chính thức là ngày 05- 10 - 1938?” Vì sao đến năm 1986 lại nhớ cụ thể ngày tháng kết nạp chính thức đến như vậy? Nếu được kết nạp chính thức rồi mà trong suốt 5 năm ấy, sao không tìm cách bắt liên lạc với Đảng? Khi vào Hội An, phong trào cách mạng ở Hội An, Duy Xuyên, Quảng Nam rất mạnh. Tổ chức Đảng và các tổ chức công khai như các hội ái hữu, các nghiệp đoàn đều hoạt động mạnh, ngay trong Sở đạc điền mà Lê Đức Anh làm thư ký cũng có tổ chức quần chúng của Đảng. Rõ ràng có sự man trá trong lý lịch của Anh.

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 4)

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. chúng mày sủa chán chưa, có ai tin những lời chúng mày nói không, có ai đi tin cái loại phản động đi theo thế lực thù địch để làm cho nguyện vọng cá nhân được hoàn thiện, bọn mày chỉ vì lợi ích cá nhân thôi chứ làm gì có được ích gì cho nhân dân đâu hả, chỉ thêm khổ bà con bị bọn này xúi dục làm điều trái với đạo lí dân tộc

      Xóa
  5. Trường Sa- hai tiếng thiêng liêng mà xúc động. xúc động, cảm thấy tự hào, tinh thần tự tôn dân tộc, đó là những gì mà chúng ta, những người mang trong mình dòng máu Việt có thể cảm nhận được, thấu được khi được nghe đến hai chữ Trường Sa thân yêu. ĐÓ là một bộ phận không thể tách rời của đất nước, của dân tộc chúng ta. Hãy cùng nhau chung tay bảo vệ vững chắc biển đảo quê hương.

    Trả lờiXóa
  6. Trường Sa - mảnh đất thiêng liêng, nơi Tổ quốc neo mình nơi đầu sóng cả đang đổi thay từng ngày. Cùng với một Trường Sa kiêu hãnh, kiên cường giữa biển khơi đang ngày đêm nắm chắc tay súng để bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng và bất khả xâm phạm của dân tộc Việt Nam, là một Trường Sa hết sức dung dị và thấm đượm chất thơ. Là người dân, người con mang trong mình dòng máu Việt, chắc hẳn chúng ta luôn cảm thấy tự hào về hòn đảo thân thương này.

    Trả lờiXóa
  7. Trường Sa mãi mãi là chủ quyền biển đảo của Việt Nam, điều này không thể phủ nhận. Trong một thời gian dài chúng ta đã chiến đấu để giành chủ quyền lãnh thổ, độc lập, tự do cho đất nước, và bây giờ vẫn vậy nhiệm vụ chính vẫn phải là bảo vệ, và phát triển đất nước, những thứ thuộc về bản thân mình thì không thể thay đổi được. Việt Nam sẵn sàng một lần nữa chứng tỏ quyết tâm của chính mình.

    Trả lờiXóa
  8. Thật tự hào khi mà đất nước ta có 2 quần đảo vô cùng rộng lớn và quý giá. Đó là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tôi ước ao một lần được đến thăm nơi thiêng liêng đó của Tổ quốc để ngắm nhìn nó rõ hơn và tận hưởng sự bình yên nơi đảo xa để qua đó tôi thêm phần nào sự yêu thương biển đảo quê hương hơn nữa

    Trả lờiXóa
  9. Trường Sa, nơi in dấu hồn thiêng biển đảo quê hương. Thật tự hào khi tôi được sinh ra và lớn lên ở một đất nước có đường bờ biển dài và có 2 quần đảo lớn như vậy. Nơi đó bây giờ đang có rất nhiều chiến sĩ hải quân tình nguyện canh gác, đem sức mình bảo vệ biển đảo. Yêu biển đảo quê hương nhiều quá

    Trả lờiXóa
  10. trường sa hoàng sa mảnh đất thiêng liêng của dân tộc nơi mà cha ông anh hùng liệt sĩ đã đổ máu xuống nơi đây để bảo vệ mảnh đất linh thiêng đó, để có được sự bình yên như ngày hôm nay thì chúng ta không thể quên được những công lao to lớn của những người anh hùng đó, hiện nay 2 quần đảo đó đang bị trung quốc lăm le tấn công nhưng hiện tạ trung quốc vẫn chưa làm được gì

    Trả lờiXóa
  11. Trường Sa là một vung biển đảo không thể tranh cãi cua Việt Nam chúng ta và cũng là thiêng liêng nhất của tổ quốc chúng ta. Cho nên không bất cứ thế lực nào có thể xâm phạm được vùng biển đảo này của chúng ta. Với tinh thần đoàn kết và truyền thống yêu nước của nhân dân ta nhất định chúng ta sẽ bảo vệ được vùng biển đảo của chúng ta.

    Trả lờiXóa
  12. Trường Sa mãi mãi là chủ quyền biển đảo của Việt Nam chúng ta, có một Trường Sa hiên ngang giữa phong ba, bão tố, và cũng có một Trường Sa dung dị, yên bình với những phong tục, tập quán tốt đẹp từ ngàn xưa của dân tộc. Tình đồng bào, nghĩa đồng chí được những cư dân nơi đây ngày đêm bồi đắp và tỏa sáng.

    Trả lờiXóa
  13. Trường Sa, từ ngàn đời nay vẫn hiện hữu trong trái tim mỗi người dân đất Việt. Bao thế hệ ông cha chúng ta đã không quản máu xương để bảo vệ, giữ gìn từng tấc đất chủ quyền biển đảo. Ngày nay, Trường Sa vẫn sừng sững, hiên ngang giữa phong ba bão tố. Sức sống Trường Sa mãi trường tồn là minh chứng cho tinh thần của dân tộc Việt Nam.

    Trả lờiXóa
  14. Trường Sa của Việt Nam là vậy. Anh dũng, kiên cường, nhưng cũng thật gần gũi, thân thương. Tâm hồn người Việt Nam là vậy, dù ở đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào vẫn lạc quan và luôn đoàn kết gắn bó.

    Trả lờiXóa

 
Nhân quyền © 2012 | Designed by True Happy
.