on 18:36:00

CÔNG TÁC GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG SINH VIÊN TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC HIỆN NAY

Nhãn: , , ,

Môi trường giáo dục Đại học là nơi có những hoạt động phong phú, tạo điều kiện cho sinh viên giao tiếp, ứng xử, vui chơi giải trí lành mạnh, bày tỏ quan điểm, tâm tư nguyện vọng, đồng thời hỗ trợ giải quyết các vấn đề khó khăn, vướng mắc trong học tập, công tác và trong cuộc sống. Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, mở cửa giao lưu trong nước và quốc tế tạo điều kiện cho sinh viên (SV) tiếp cận với nhiều nguồn thông tin mới qua hệ thống truyền thông, góp phần nâng cao trình độ hiểu biết về mọi mặt. Điều đó cũng tác động không nhỏ đến nhận thức, niềm tin, mục tiêu, định hướng chính trị và phương hướng hành động của SV. Ở lứa tuổi SV, họ khá nhạy cảm với các vấn đề chính trị xã hội, đặc biệt là những vấn đề không lành mạnh, tiêu cực mà khả năng nhận thức, tự miễn dịch trước tác động của thông tin xấu, ở phần lớn SV còn hạn chế. Nếu không được định hướng, giáo dục kịp thời SV dễ bị nhiễu thông tin, đen trắng lẫn lộn, thậm chí mất phương hướng chính trị tư tưởng, mất niền tin về chế độ, về sự lãnh đạo của đảng và quản lý của nhà nước. Đây là kẽ hở để các thế lực thù địch thực hiện “diễn biến hòa bình” nhằm làm cho SV giảm sút ý chí, nghị lực, dao động về niềm tin, dẫn đến thoái hóa biến chất về đạo đức lối sống như trường hợp sinh viên Nguyễn Phương Uyên gần đây.
Tuy nhiên, ở một số trường đại học hiện nay, việc đổi mới về nội dung, hình thức giáo dục chính trị tư tưởng còn chưa được chú trọng đúng mức, tình trạng giáo dục chính trị chung chung, đơn điệu, một chiều vẫn diễn ra, đặc biệt là áp đặt, buộc người nghe phải chấp nhận vấn đề mà không có sự luận giải sâu sắc nên hiệu quả giáo dục chưa cao. Sự phối hợp, chỉ đạo hoạt động Đoàn, Hội với phòng trào thanh niên ở một số trường còn chưa đồng bộ và thiếu chặt chẽ. Bên cạnh đó, việc nắm bắt, định hướng cách thức tiếp cận và xử lý thông tin mới cho HS, SV có lúc, có thời điểm còn chưa chủ động và kịp thời…, do đó đã ảnh hưởng xấu đến tình hình tư tưởng đạo đức và lối sống của một bộ phận không nhỏ HS, SV hiện nay.  Theo một khảo sát gần đây cho thấy: có 69,5% HS, SV được hỏi cho rằng mình “thường chú ý đến các thông tin thời sự chính trị xã hội trong nước”, đặc biệt là các thông tin xã hội nổi cộm. Kết quả khảo sát cũng cho thấy, ngoài việc tiếp cận với các thông tin chính thống, HS, SV còn tiếp xúc với các nguồn tin không chính thống qua bạn bè, các trang web không chính thức, web đen, các mạng xã hội trên Internet. Có đến 82,5% HS, SV tiếp cận thông tin qua mạng Internet, 75,4% qua bạn bè, 45,6% qua thầy cô giáo; 25,3% qua tivi, đài phát thanh nội bộ; chỉ có 17,6% HS, SV tiếp cận qua tổ chức, đoàn thể và gia đình.
Việc tiếp cận với các thông tin xấu về kinh tế xã hội, kết hợp với các trang web độc hại về chính trị xã hội làm cho HS, SV mất niềm tin, hoang mang, nghi ngờ về những thông tin có được, thậm chí có thể dẫn đến lệch chuẩn, vi phạm pháp luật. Nhưng số liệu thu được từ một số cuộc khảo sát cho thấy, do chưa được định hướng kịp thời nên khi tiếp cận với những thông tin tiêu cực, nổi cộm gây bức xúc trong đời sống xã hội có đến 45,8% HS, SV còn hoang mang, nghi ngờ về thông tin này; 59,9% HS, SV mất niềm tin vào sự công bằng xã hội; 48,3% chia sẽ bức xúc với người thân, bạn bè; 42,4% chú ý theo dõi sự phát triển thông tin đó; chỉ có 9,5% HS, SV coi thông tin trên là bình thường và 33,7% phản ứng ngay bằng cách gửi phản hồi trên mạng. Sự thiếu định hướng thông tin, đặc biệt là những thông tin xấu đã tác động tiêu cực, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển hoàn thiện nhân cách của HS, SV.
 Để góp phần “giáo dục lý tưởng, phẩm chất đạo đức, lối sống… bồi dưỡng cho thanh thiếu niên lòng yêu nước nồng nàn, tự hào, tự tôn dân tộc và khát vọng mãnh liệt xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” và giúp cho SV có đủ khả năng, bản lĩnh miễn dịch trước các tác động của thông tin xấu độc, các vấn đề xã hội nóng bỏng, bức xúc cần chú trọng hơn nữa việc giáo dục chính trị tư tưởng, định hướng và giải đáp kịp thời các vấn đề xã hội đến SV. Cụ thể, cần thực hiện một số nội dung, biện pháp sau:
Thứ nhất, các trường phải thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chính trị đầu khóa, cuối khóa, đầu năm học, cuối năm học; phối hợp với các ban, ngành liên quan tổ chức các buổi báo cáo, diễn đàn để giải đáp kịp thời các vấn đề xã hội nóng bỏng, nổi cộm mà SV quan tâm.
Thứ hai, phát huy vai trò của đội ngũ giáo viên, đặc biệt là giáo viên chính trị trong các trường đại học nhằm định hướng thông tin cho HS, SV. Đội ngũ giáo viên phải thường xuyên trau dồi lý luận chính trị, chủ nghĩa Mac - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quán triệt và nắm bắt kịp thời đường lối, chủ trương, chính sách của đảng, nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, đặc biệt là Nghị quyết TW4 – khóa XI. Đồng thời phải không phải ngừng đổi mới nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục chính trị tư tưởng cho phù hợp với HS, SV. Cần luận giải những vấn đề thực tiễn xã hội “nóng hổi” có căn cứ khoa học và mang tính thuyết phục cao vào trong bài giảng chính trị của mình. Dùng các cứ liệu sinh động trong thực tiễn cuộc sống để tăng tính thuyết phục để HS,SV nhận thức đúng đắn về vấn đề, sự kiện xã hội đang được quan tâm. Bên cạnh việc tuyên truyền ý thức cảnh giác, đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” thì khi tiếp xúc, cập nhật thông tin mới, đội ngũ giáo viên phải cân nhắc, chắt lọc, lựa chọn những thông tin có ích, có tác dụng định hướng chính trị, tư tưởng cho HS, SV. Kết hợp tính tư tưởng lý luận với tính chiến đấu để vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, làm cho HS, SV hiểu rõ thực trạng của đất nước, địa phương, nhận thức đầy đủ những thời cơ, thuận lợi cũng như những thách thức, khó khăn đối với việc thực hiện nhiệm vụ của người HS, SV Việt Nam, từ đó củng cố niềm tin khoa học, xây dựng quyết tâm phấn đấu và ý chí vươn lên.
Thứ hai, phát huy tốt vai trò của đoàn thanh niên trong tuyên truyền, giáo dục, định hướng thông tin thông qua các buổi hoạt động đoàn. Đoàn thanh niên cần tổ chức những buổi sinh hoạt với nội dung phong phú như phân công nói chuyện về những vấn đề nổi cộm trong xã hội hoặc cùng nhau phân tích những vấn đề thời sự “nóng hổi” của Việt Nam cũng như các nước trên thế giới, qua đó vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch, mà bọn chúng tung tin đồn nhảm trong xã hội, tuyên truyền sai sự thật trên Internet. Những hoạt động này sẽ giúp cho đoàn viên, thanh niên hình thành và củng cố lập trường tư tưởng, chính kiến, kỹ năng phân tích khi tìm hiểu các thông tin. Bên cạnh đó, đoàn trường cần phối hợp chặt chẽ với đoàn thể chính quyền địa phương, kịp thời cập nhật những thông tin về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trong nước để HS, SV có nhận thức đúng đắn về những thay đổi của địa phương, của đất nước, tự ý thức được vai trò trách nhiệm của bản thân trước những biến đổi đó. Ngoài ra, đoàn trường cần xây dựng các chương trình hoạt động phù hợp với đặc thù của trường mình. Nhất là tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa đủ sức cuốn hút thanh thiếu niên tham gia, như xây dựng các câu lạc bộ (CLB): CLB học tập, CLB văn nghệ, CLB bóng đá, CLB bản tin Đoàn trường đi dã ngoại… thông qua đó định hướng chính trị tư tưởng đúng đắn cho HS, SV, góp phần ngăn ngừa các thông tin xấu độc và các tệ nạn xã hội xâm nhập học đường.
          Thứ ba, nâng cao và đa dạng các nguồn thông tin chính thống các phòng đọc chính trị; cán bộ làm công tác tuyên truyền viên, phát thanh viên, đội ngũ cán bộ thư viện thường xuyên quản lý, định hướng SV sử dụng, khai thác thông tin trên phòng Internet, trang Web nội bộ của nhà trường nhằm cung cấp kịp thời cho HS, SV những thông tin mới, bổ ích, có định hướng, những vấn đề mang tính thời sự, thiết thực với lĩnh vực hoạt động, ngành nghề học tập, sinh hoạt.
Cuối cùng, để công tác định hướng thông tin, giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên hiện nay có hiệu quả cần có sự tham gia đông đảo của các tổ chức, lực lượng từ nhà quản lý, nhà trường, các tổ chức đoàn thanh niên, hội SV…các bậc phụ huynh, gia đình và hơn hết chính bản thân các em cũng phải tự tu dưỡng, định hướng đúng khi nhìn nhận các vấn đề xã hội, tạo điều kiện cho quá trình định hướng nghề nghiệp và phát triển, hoàn thiện nhân cách; xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước.
                                                                                     Lê Minh

44 nhận xét:

  1. Tại Sao chưa có một cuộc Nổi dậy của Toàn dân?

    Gần 40 năm sau khi bọn Cộng Sản xâm chiếm miền Nam, gần 60 năm chúng tàn bạo đô hộ Miền Bắc nhưng không ai hiểu được tại sao dân chúng không một lần nổi dậy tìm cách lật đổ cái chế độ độc tài dã man của chúng. 25 năm đã trải qua kể từ ngày chủ nghĩa Cộng Sản bị sa thải ở Nga Xô và và các nước Đông Âu, ngày nay những dân tộc đã được giải phóng khỏi gông cùm Cộng Sản ở Đông Âu vẫn rùng mình nổi gai ốc khi nhắc tới những kinh hoàng của quá khứ, họ muốn quên hết những kinh nhiệm đau thương mà họ đã phải trải qua, họ không còn muốn nhớ tới cái dĩ vãng khốn nạn xa xưa đó nữa. Ấy thế mà ở nước ta, mặc dù khốn khổ, mặc dù phải sống trong sự kìm kẹp, sự khủng bố tinh thần không ngừng, sống dưới ách gông cùm của một chế độ độc tài ác nhân thất đức, nhưng dân chúng Việt Nam vẫn cắn răng chịu đựng, vẫn ngậm miệng im the, vẫn không dám vùng lên. Lý do đơn giản là vì trước bạo lực của mũi súng và nhà tù, họ sợ, họ không dám ngó ngoáy, họ đâm ra hèn nhát. Họ đành chấp nhận định mệnh, chấp nhận ươn hèn để được yên thân, yên thân sống một cách nhục nhã, sống hẩm hiu, sống một cuộc sống không phải của con người. Bởi vì sống mà bị tước mất hết những quyền căn bản của con người, sống mà lúc nào cũng bị đầy đọa, đe dọa, sống mà run sợ, thì đâu khác gì sống như một con vật? Chế độ bạo tàn của Cộng Sản đã buộc họ phải ngậm miệng, cúi đầu tuân thủ những mệnh lệnh vô nhân đạo, riết họ không còn nhận thức được đâu là lẽ sống của con người nữa. Họ đã quên đi tất cả những giá trị của đời sống, họ không còn cái hùng khí vốn là bản chất của dân tộc họ.

    Bởi thế cho nên muốn họ nhận thức được lẽ phải, muốn họ sáng con mắt ra, muốn họ ý thức được rằng họ đang sống hèn, sống theo bản năng, sống chỉ để mà sống, muốn họ ý thức rằng phải chấm dứt cái lối sống thê thảm hiện tại của họ thì phải có một sự khích động từ bên ngoài họ, cũng như muốn ngọn lửa bùng cháy thì phải có ngòi châm, phải có tia lửa làm bộc phát, làm bùng lên lòng căm hờn, bùng lên sự phẩn uất thúc đẩy họ nổi dậy, sẵn sàng chịu hy sinh, sẵn sàng dùng bạo lực chống lại cái bạo lực của nhà nước, chống lại sự khủng bố, sự đe dọa, hủy diệt hệ thống tuyên truyền của đảng.

    Như thế, muốn cho người dân nổi dậy, trước tiên phải có một sự khích động, phải làm cho họ thức tỉnh khỏi cơn u mê, phải làm cho họ cam đảm vùng lên chống đối, vùng lên phản kháng, vùng lên dành lại những quyền được sống trong tự do và hạnh phúc của họ. Phải tuyên truyền rỉ tai, phải khuyến khích, phải thúc dục, phải cho họ thấy rằng không còn lối thoát nào khác hơn là đồng lòng tranh đấu giành lại quyền được sống cho ra sống, sống oai hùng, sống hãnh diện với lịch sử vẻ vang của dòng giống Lạc Hồng.

    Làm sao Khích động Lòng Dân?

    Việc khích động lòng dân phải được tổ chức qui mô, qui củ, liên tục, bằng đủ mọi hình thức, phải được cân nhắc kỹ lưỡng để có thể đạt tới mục tiêu nhất định là gây ra cuộc nổi dậy như mong muốn. Tất nhiên là phải khôn khéo để kế hoạch không bị giặc thù ra tay dập tắt hay phá hoại. Mưu chước là ở những người hành sử công tác khích động nhất là vào những lúc tổ chức còn sơ khai. Phải làm từ từ khôn khéo nhất là lúc ban đầu, tựu trung vào giới thanh niên học sinh sinh viên có tinh thần yêu nước, phải biết người biết ta, phải bảo toàn cơ sở để tồn tại lâu dài. Những người cầm đầu phải ẩn danh, không ra mặt, phải tranh đấu bí mật bởi vì công khai là bị chúng nó quật ngã liền. Họ phải biết khiêm tốn, biết vì đại sự mà tự trấn áp mình xuống để làm nên việc, biết quên mình mà tranh đấu cho người khác, cho toàn dân, cho đất nước.

    (Xem tiếp phần dưới)

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Ngày xưa Việt Minh cũng khích động thanh niên đi làm cách mạng, chúng khích động lòng yêu nước của tuổi trẻ nên bao nhiêu người bỏ nhà vào chiến khu để rồi bị kẹt luôn. Một số nhỏ, sau khi biết rõ mưu mô thâm độc của bọn HCM và thấy mình quá ngây thơ nên bị bịp, tìm đường trở lại với chính nghĩa. Vào những năm 60 các trí thức Miền Nam cũng bị chúng dụ dỗ vào bưng thành lập cái gọi là Mặt Trần Giải Phóng Miền Nam, sau này cay cú vì chưa ho he đã chúng vùi dập, năm 1975 Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam tưởng ngon lành, đâu dè chưa đầy một năm sau đã bị CS Hà Nội cho chìm xuồng.

      Nhưng nói cho cùng thì công tác khích động lòng dân của bọn Cộng sản quả không có chỗ chê: chúng biết dùng đủ mọi thủ đoạn để lôi cuốn lòng dân, vừa tuyên truyền bịp bợm vừa khủng bố tinh thần, vừa dùng lời khuyến dụ, vừa áp đảo tình thần bằng trăm mưu ngàn kế, đe dọa có, thủ tiêu có, kìm kẹp có, để buộc người dân phải theo chúng. Dưới thời Việt Nam Cộng Hòa bao nhiêu thanh niên sinh viên học sinh đã nghe lời khuyến dụ đường mật của chúng, đứng lên tổ chức những cuộc biểu tình, bãi khóa, tham gia cả vào những vụ phá hoại, công kích các căn cứ quân sư của Miền Nam? Bao nhiêu người đã làm tay sai cho chúng phản bội lại chính thể nuôi dưỡng họ, cho họ được ăn sung mặc sướng? Dù vậy chúng vẫn thất bại ê chê vào dịp Mậu Thân khi chúng tổng tấn công vào những thành thị Miền Nam, chúng đã tưởng chúng tiến quân tới đâu thì cũng được “nhân dân” chào đón, ủng hộ, giúp đỡ. Nhưng chính vì chúng đã tự phụ tự đắc nên đã ước tính sai lầm: chính vì vậy mà cuộc “tổng công kích Miền Nam” vào năm Mậu Thân của chúng mới là một cuộc thảm bại ê chề. Ngay cả vào những ngày Tháng Ba và Tháng Tư năm 1975, chúng kéo quân tới đâu thì dân chúng chốn chạy bỏ đi, bao nhiêu người bị chúng nã đại pháo chết trên con đường chạy loạn? Những người kẹt ở lại những vùng chúng chiếm được, bao nhiêu người tung hê chúng? Bởi vì với thời gian ai cũng biết bộ mặt gian ác của Cộng Sản, ai cũng rõ những lời bịp bợm của chúng.

      Vì chính nghĩa, chúng ta không thể phụ lòng dân mà tuyên truyền bịp bợm, dùng những thủ đoạn thất nhân ác đức giống Cộng sản để chiêu dụ dân chúng. Nhưng chúng ta cần khơi động nơi họ lòng căm thù Cộng sản hầu thúc giục người dân yêu nước nổi dậy, diệt hết bọn lợi dụng hai tiếng “cách mạng” để hại dân hại nước, vinh thân phì gia. Nhưng đối với giặc Cộng thì chúng ta cũng phải mưu mô thủ đoạn, cũng phải “gậy ông đập lưng ông”, lấy bạo tàn diệt bạo tàn, không thể nhân đạo, không thể tha thứ, không nhân nhượng hay thỏa hiệp. Chỉ còn một con đường duy nhất phải theo để cứu nước cứu dân là diệt hết tận gốc cái bọn phản nước hại dân, theo chân giặc Tầu bán đứng quê hương dân tộc. Không kẻ thù nào, kể cả bọn ngoại xâm, lại đáng kinh tởm, đáng thù ghét, đáng tiêu diệt cho hết bằng bọn Cộng Sản Hà Nội. Chúng không cùng giống nòi Lạc Hồng với chúng ta, chúng là bọn quỷ đột lốt con người sinh ra để hủy hoại dân tộc ta.

      (Xem tiếp phần dưới)

      Xóa
    2. Khích động người dân là để họ thức tỉnh, để họ hết u mê, hết ù lì, hết vô cảm, để họ nhận thức cái nghĩa vụ của họ đối với xã hội, với chính họ và gia đình họ, và đối với cả con cháu họ sau này. Đó là một nhiệm vụ cao cả mà đất nước trao cho giới thanh niên, sinh viên học sinh, giới công nhân lao động, và giới trí thức, là những giới có tinh thần yêu nước yêu dân tộc hàng đầu, họ là những người có trọng trách đối với lịch sử, họ có cái trọng trách giải cứu dân tộc, bảo vệ sự tồn vong của đất nước. Họ là những người sẵn sàng hy sinh tính mạng để giữ gìn bờ cõi, chống bọn xâm lăng phương Bắc. Nhưng trước hết nhiệm vụ của họ là làm sao cho cái chế độ tay sai độc tài ác nhân ác đức ở Hà Nội phải sụp đổ, những tên đồ tể, đồ đệ của tên cáo già Hồ chí Minh, phải đền tội trước nhân dân, phải bị xử tử, phải bị chu di tam tộc. Lịch sử nước ta đã tới lúc phải sang trang, một tương lai sáng ngời phải đến với dân tộc Việt Nam oai hùng. Bọn Cộng sản Hà Nội không còn lối nào thoát, chúng ta sẽ theo đuổi chúng tới chân trời góc biển để tiêu diệt chúng không thương tiếc. Ngày trước chúng gây sự căm thù thực dân thế nào thì giờ đây chúng ta cũng gây nỗi căm thù chúng như thế.

      Nói về sự căm thù Cộng Sản thì ngoài một thiếu số nhỏ hoặc vì ngu si đần độn bị đầu độc bằng tuyên truyền riết thành bị rửa óc (brainwashed), không còn đủ trí khôn nên mù quáng. Bọn này tiếp tục ca tụng chúng, hoặc vì được cho chấm mút, cho hưởng tí cơm thừa canh cặn nên hùa theo chúng, tiếp tục bám đít chúng để tồn tại. Còn lại thi đa số tuyệt đối người dân đang chán ghét bọn cầm quyền Cộng Sản, đang uất ức căm thù chúng, chỉ muốn chúng chết, muốn một thảm họa lớn xảy ra để cả lò nhà chúng bị tiêu diệt, để chúng biến đi khỏi mặt trái đất này. Bao nhiêu năm người dân đã phải chịu sự khống khổ, đầy đọa, hành hạ cả về tinh thần lẫn thể xác, bị đối xử bất công, chịu bao nỗi oan ức? Làm sao họ không oán hận bọn giặc Cộng, làm sao họ không căm thù chúng? Nhưng vì bản năng sinh tồn, vì bị chúng khủng bố tinh thần nên họ phải câm miệng, họ bị bó tay, họ không dám ho he. Bởi vì chỉ mới tỏ ra mình bất đồng với chúng - chứ chưa có ý tưởng chống lại chúng – là đã bị mời lên “làm việc” bị tra khảo, tra tấn, bị cho đi tù, đi đầy. Tâm trạng người dân là như thế đó. Một mặt thì căm ghét bọn chúng, mặt khác thì sợ bị chúng ám hại…

      Nhưng như các cụ ta đã nói “một cây chẳng làm nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, hành động cá nhân không thể đi tới được kết quả. Trong cái “địa ngục đỏ” nơi bạo lực chế ngự, thì hành động cá nhân sẽ chỉ mang tai họa đến cho người “có gan yêu nước một mình.” Bao nhiêu người có máu anh hùng đã có gan đứng lên chống đối chúng để rồi phải đi tù, bị hành hạ, bi trả thù vì hành động yêu nước của mình. Ai cũng kính phục hành động yêu nước của những con người anh hùng đó, nhưng chỉ có thế, kết quả không đi đến đâu. Trái lại cá nhân phải trả cái giá quá đắt. Chỉ có sự đoàn kết mới tạo được sức mạnh của người dân. Hình ảnh bó đũa cũng thể hiện sự kiện chỉ bằng hành động tập thể, tức sự nổi dậy đồng loạt của toàn dân mới tạo nên được cái sức mạnh vũ bão của nhân dân, mới thắng được bạo tàn. Đưa một cây đũa cho đứa bé bảo nó bẻ thì nó bẻ được liền, nhưng đưa cả bó cho nó đố nó bẻ nổi? Đó là bài học cho chúng ta. Những cuộc vùng dậy đơn lẻ của từng cá nhân chi đưa tới sự hy sinh không ích lợi gì. Nhưng nếu khơi động được cả một cuộc đồng khởi nghĩa, một cuộc vùng dậy của toàn dân thì, lịch sử đã chứng minh điều này, chế độc độc tài tàn bạo nhất cũng sụp đổ.

      (Xem tiếp phần dưới)

      Xóa
    3. Lịch sử dựng nước và đấu tranh giữ nước của dân ta đã cho thấy rõ điều đó: chỉ bằng cách dựa vào sức mạnh của toàn dân, chúng ta mới viết nên những trang sử sáng ngời. Từ các đời vua Hùng, dân ta đã biết đứng lên cùng nhau đấu tranh chống giặc ngoại xâm và đến đời nhà Trần chính tiếng hô "Quyết chiến!" vang như tiếng sấm tiếng sét của các bô lão trong hội nghị Diên Hồng đã nói lên sự quyết tâm đoàn kết chống giặc của nhân dân ta. Nhờ thế dân Việt ta mới đánh đuổi được bọn ngoại xâm. Ngày nay cũng chỉ sự đoàn kết, sự chung lòng chung sức, sự đồng tâm nhất trí mới có thể mang tới thành quả chúng ta mong muốn. Chân lý cuối cùng là: “một người thì không thể làm nên việc nhưng nếu có nhiều người chung sức thì việc dù lớn đến mấy cũng sẽ thành công, bạo tàn đến đâu rồi cũng phải chết, Việt gian dù có dùng khủng bố bạo lực đến đâu rồi cũng sẽ bị làm cỏ. Không gì thắng được sức mạnh của toàn dân.”

      Phương thứ khích động lúc ban đầu

      Một trong những phương thức hữu hiệu để châm cái ngồi nổ là thổ lộ cho nhau nghe, rỉ tai, lên tiếng, nói lên những cảm tưởng, những ước vọng, tỏ rõ mối quan tâm chung. Phương thức truyền miệng là một trong những hình thức tuyên truyền tích cực, mà người dân nào cũng có thể lặng lẽ làm được, rỉ tai giữa cá nhân và cá nhân không công khai nên không dễ bị kiểm soát. Tuy không công khai nhưng tác dụng của nó vô cùng lớn vì nó lan truyền theo công thức vết dầu loang, nó đi từ nơi này tới nơi kia, từ từ nhưng rất hiệu quả. Hãy nói cho nhau nghe, hãy tâm sự, tâm tình, kể cho nhau biết nỗi ưu tư chung, loan truyền những gì mọi người phải đồng tâm làm, những gì phải cùng nỗ lực thực hiện. Trong gia đinh cha nói cho các con nghe, anh em bàn với nhau. Trong đám bạn bè thân thiết, thổ lộ cho nhau biết những nguyện vong của toàn dân, nói cho nhau biết những cái xấu xa của chế độ cầm quyền để thúc đẩy đồng loạt nổi dậy, vân vân… Công nhân nông dân! Hãy cùng nhau tổ chức cuộc vùng dậy khai phóng con người lao động. Trí thức! hãy thôi chùm chăn, hãy thoát ra khỏi cái tháp ngà, hãy đóng vai trò hướng dẫn, vai trò cố vấn lịch sử của mình. Thanh niên học sinh sinh viên, các bạn là thành thần nồng cốt để tổ chúc cuộc nổi dậy, làm cách mạng lịch sử, bàn tay các bạn sẽ cải tổ xã hội, mang lại hạnh phúc no ấm, tự do thanh bình cho quê hương!

      Phương thức tuyên truyền bằng miệng này hữu hiệu nhất vì tính cách lén lút, bí mật của nó. Dưới chế độ công an trị như ở nước ta - những bản báo cáo quốc tế cho biết cứ 5 người dân là có một công an chìm hay nổi - , những gì làm công khai qua làn sóng Internet dễ bị phát hiện nhanh chóng và làm cho vô hiệu hóa. Mới đây nhất, chính quyền Cộng sản bầy thêm ra cái trò phạt tiền - một số tiền rất lớn gần 5000 dollars - những ai viết những thông tin có hại cho nhà nước. Chưa kể là những người viết blogs, facebook, twitter, v..v… trước sau hầu như đều bị bắt bỏ tù một cách vô nhân đạo và không mong gì những tổ chức nhân quyền hay những chính phủ nước ngoại có thể cứu được, bởi vì chính phủ Hà Nội không coi những cơ quan này ra gì. Những lời phê bình hay lên án của quốc tế, chứ đừng nói gì của chúng ta, đều không có một ý nghĩa gì hết đối với bọn đồ tể đỏ, chúng bỏ hết ngoài tai, càng chửi chúng càng hung hăng, càng làm dữ hơn. Đối với chúng lẽ phải là của kẻ có bạo lực trong tay. Khi giờ đã điểm thì chỉ có cách dùng bạo lực của toàn dân mới diệt được bạo lực của bọn quỉ đỏ, chỉ súng đạn mới chống lại được súng đạn.

      (Xem tiếp phần dưới)

      Xóa
    4. Giới trẻ am hiểu tình hình am hiểu kỹ thuật thông tin tân tiến, bổn phận của họ là phải tìm ra một phương thức sử dụng hữu hiệu Internet để tuyên truyền, để thông báo cho nhau nghe, để cùng lên chương trình hành động mà không bị bọn chó săn đỏ khám phá, truy lùng. Họ có nhiệm vụ lịch sử là biết kết hợp văn minh tiên tiến với những phương thức tuyên truyền rỉ tai truyền thống cổ điển. Những kỹ sư, kỹ thuật gia, những nhà thông thái về khoa học trẻ tuổi, bổn phận của các bạn là moi óc tìm tỏi cho ra những lối đấu tranh qua con đường thông tin tiên tiến trên mạng, làm thế nào để qua mắt được bọn chó săn nô lệ mù quáng của chế độ. Trách nhiệm của giới trẻ thông minh sáng suốt và đầy nhiệt tình với quê hương dân tộc là phải làm sao có thể kết hợp lại với nhau thành một mạng nhện vĩ đại bao trùm không những trong nước mà cả ngoài nước nữa. Hãy đồng lòng kết hợp hành động trên khắp mọi ngõ ngách của thế giới để đi tới con đường giải phóng chúng ta khỏi độc tài áp bức. Chúng ta chỉ lặng lẽ hành động, hãy ngưng chửi bới vô ích, hãy ngưng mọi hoạt động đấu tranh hòa bình như thương lượng hay thỏa hiệp. Chỉ có một con đường đi tới thắng lợi là đồng lòng diệt thù, đập đổ cái tường thành của áp chế độc tài, của ách đô hộ thực dân trá hình.

      Tạm kết

      Toàn thể chúng ta phải kiên trì làm cái công việc rỉ tai loan truyền những nguyện vọng chung trên. Phải quyết tâm thực hiện cho bằng mọi giá công cuộc cách mạng mới. Phải giữ vững lòng tin tưởng rằng cuối cùng chúng ta sẽ thắng, bọn giặc thù sẽ chết. Phải kiên địch lập trường giệt giặc cứu nước cứu dân, phải sẵn sàng chấp nhận sự hy sinh để chu toàn trọng trách đối với lịch sử, đối với dân tộc đất nước. Chúng ta phải đồng lòng nói lên nỗi lòng của dân tộc ta, phải truyền đi lới thề đanh thép của chúng ta trong một “Hội nghị Diên Hồng của thời đại!”

      (Còn tiếp)

      Hướng Dương txđ

      Xóa
  2. Tư Tưởng Và Tư Tưởng Chính Trị Việt Nam

    “… Nước là dân và toàn dân phải như dây quấn thì mới tạo được hoà bình ở trời Nam:
    làm ‎lịch sử là kiến tạo hoà bình vĩnh cửu, chứ không phải là gieo rắc thù hận và những mầm ‎mống của đấu tranh không cùng …”‎

    Kể từ khi lập quốc cho đến ngày nay có một dòng lịch sử Việt Nam trong đó đã cấu thành ‎nên một quốc dân Việt Nam, thì hiển nhiên rằng phải có một tư tưởng Việt Nam.‎

    Tư tưởng Việt Nam là cái động lực lớn để giữ nước và yên dân. Tư tưởng Việt Nam là cái ‎sức mạnh chính yếu đã tạo ra sự đặc thù của con người và văn minh Việt Nam trên trái đất ‎của loài người. Tư tưởng Việt Nam là tư tưởng lãnh đạo lịch sử Việt Nam. Những ngọn ‎sóng của lịch sử thế giới nhiều khi đã tràn ngập cả cõi sống Việt Nam. ‎
    Tư tưởng Việt Nam đã có những thời bị dìm xuống tận đáy sâu thẳm của những vực không ‎bờ tưởng rằng vĩnh cửu không còn một cái bóng, một tiếng vang, trong trí nhớ của người ta. ‎Nói đến tư tưởng Việt Nam trong những thời quốc vận suy mạt này, những người tự thổi ‎lên là kẻ sĩ hay trí thức chỉ biết nhìn nhau ngơ ngác, tưởng là nói chuyện quỷ thần. Có hay là ‎không có? Hình bóng ra sao? Ðạo Nho chăng? Hay là Ðạo Lão? Ðạo Phật? Ðạo Chúa? Tư ‎tưởng của Lư Thoa à? Chủ nghĩa của Các Mác chăng? Thưa là hoạt kê và cũng thực là bi đát. ‎Y như đứa trẻ mồ côi bị loài sói nuôi thì gọi sói là mẹ và coi sự đấu tranh sinh tồn của loài ‎sói là lẽ sống của chính mình. Sự mất bản thể và tha hoá có thể kéo dài cả thế kỷ, cả mười ‎thế kỷ tối tăm.‎

    Nhưng rồi tư tưởng Việt Nam lại nổi lên, với những nguồn sinh lực mới, giàu hơn, mạnh ‎hơn, đẹp hơn, thực hơn, và trăm phần tươi sáng hơn. Nó châm lên những bó đuốc mới để ‎phá tan đêm tối mà đón ánh mặt trời buổi ban mai. Nó khơi lại trong mỗi trái tim cái tàn lửa ‎cũ cho bùng lên thành cục than hồng của lòng yêu nước vạn năng. Nó làm cho giang sơn đất ‎nước rực lên một mầu vinh quang và sình bùn cũng chứa đựng những hứa hẹn không cùng.‎

    Nhưng các đế quốc lớn trong thiên hạ vẫn không ngớt thèm muốn cái nơi góc bể chân trời ‎mà tiền nhân chúng ta đã biến thành gấm vóc thi ca và gọi bằng cái tên yêu dấu là nước ta, ‎quê ta. Dầu là từ Bắc phương gần, Bắc phương xa, - nơi lòng người giá lạnh như băng tuyết ‎nghìn thu, hay từ phương tây bên bờ của đại dương mà mặt trời lặn xuống, kẻ xâm lăng, với ‎sự phản bội của những Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Ðồng Khánh, Hồ Chí Minh, sợ cái tư ‎tưởng quật cường bất khuất của người Việt Nam yêu nước, đã bao lần đốt lửa để nấu chảy ‎trống đồng, thiêu hủy sách vở và đem xe, tàu đến để chở cái rừng tư tưởng Việt Nam về nơi ‎chính quốc mà chôn trong những phòng cấm của những tàng kinh các quốc gia của họ. ‎Nhưng cái hoá thân có hình hài sắc tướng với những chữ nghĩa trên trang giấy có thể bị đốt, ‎bị khoá, mà pháp thân của tư tưởng Việt Nam, không sống gửi vào vật chất, vẫn tự tại và tự ‎tồn, để chờ ngày quật khởi.‎

    Trên khắp nước Việt Nam, không có một tấc đất nào không có máu thịt của ta trong những ‎kiếp trước. Không có một lá cây ngọn cỏ nào mà mỗi tế bào không có một phần của ta ngày ‎xưa. Tất cả cái phong cảnh của đồng ruộng núi sông trong nước là do khối óc và bàn tay của ‎tiền nhân xây đắp. Ðó là cái vùng trời và những con đường của văn hoá dân tộc. Và mỗi cái ‎thoáng nghĩ trong đầu óc của một người hiện ra trong một lời nói, một nụ cười hay một cái ‎nhúc nhích của một sợi cơ trong một bàn tay, hoặc phải nén xuống trong cõi lòng không đáy ‎của những ngàn năm đàn áp, cũng chứa đựng tất cả cái tư tưởng Việt Nam.‎

    Vào đầu thế kỷ thứ 17 ở bên trời Âu, có nhà đại khoa học, đại văn hào là Blaise Pascal đã để ‎lại cho hậu thế những mảnh vụn của một cuốn sách mà người ta chắp nhặt lại, đặt cho một ‎cái đầu đề là Tư Tưởng (Pensées). Ðại để đi ngược lại với người đời thường nghĩ rằng hiểu ‎nhau rồi mới yêu nhau được, Pascal nói rằng có yêu Chúa thì mới hiểu được Chúa, và không ‎ngần ngại đi đến cuộc đánh cá lớn nhất trong lịch sử triết học Tây phương, là cứ đi lễ đi rồi ‎mới có thể mong được ban ân. Hành tiên, trí hậu.‎ ‎ ‎

    (Xin xem tiếp phần dưới)

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Quốc tộ như đằng lạc… ‎ ‎ ‎

      Tư tưởng Việt Nam cũng như Chúa của Pascal. Có đó, mà không có đó. Có đó cho người đã ‎yêu, đã thấy. Khi ấy thì có khắp mọi nơi, từ cái cực vi đến cái cực đại, từ trong một mô đất ‎bên bờ ruộng đến những con sông dài chở củi, lúa và tình người ; từ tiếng sáo diều trên cánh ‎đồng quê đến những lời hát vô tận của gái trai trong cuộc sống văn hiến, từ một hột cơm, ‎một cọng rau đến sự nghiệp bất diệt của một Nguyễn Trãi. Nhưng rõ ràng hiển nhiên là thế, ‎mà vẫn không có với những kẻ lạc loài.‎

      Có thì có tự mảy may
      Không thì cả thế gian này cũng không

      Ngay cả trong những sách vở còn lọt qua mạng lưới của đế quốc và chó săn cũng còn để lại ‎chút ít di tích của tư tưởng đích thực Việt Nam. Cho những ai biết đọc, cho những ai đọc ‎với tình người Việt Nam, với tình nước Việt Nam. Trong thực tế thì cũng chẳng còn bao ‎nhiêu. Một vài mảnh giấy đã nhám lửa, vùi trong những đống tro tàn của những hoả đài văn ‎hoá. Nhưng quý làm sao ! Đẹp làm sao ! Và thâm trầm biết là chừng nào qua những huy ‎hoàng và đắng cay của lịch sử !‎

      Tư tưởng chính trị nằm ở trong tư tưởng là cái ánh của tư tưởng để soi đường cho chính trị, ‎là cái kim chỉ nam để cứu nước, giữ nước và yên dân. Tất nhiên rằng đế quốc và phản quốc ‎ở bất cứ thời nào, cũng phải truy lùng và tiêu hủy tư tưởng chính trị của người dân yêu ‎nước, trước tất cả những gì khác, hữu hình hay vô hình. Binh Thư Yếu Lược của Trần Hưng ‎Ðạo đã tuyệt diệt, nhưng An Nam Chí Lược của Trần Ích Tắc vẫn còn cho tới ngày nay, là ‎vì thế.‎

      Trong tâm khảm của chúng ta, không một người nào không tôn thờ cuốn sách mà không ‎một ai được trông thấy, cuốn Binh Thư đã đuổi giặc Nguyên ra ngoài bờ cõi. Và tuy cũng ‎còn có những sử gia vì sự bắt buộc của nghề nghiệp phải đọc cuốn sử vong bản về đất An ‎Nam, nhưng cũng không có một ai không khinh bỉ và thương hại cái văn tài trác tuyệt đã ‎lầm đường mà thành nô dịch cho đế quốc.‎

      Tư tưởng chính trị bị đốt, bị chôn nhưng vẫn sống trong lòng người dân, ở đó nó âm ỉ cháy ‎mãi, nuôi dưỡng bởi cỏ hoa của đất nước, để vạn kiếp bí truyền cho con cháu đời sau. Và ‎khi nào cần thiết thì Binh Thư lại xuất hiện, Binh Thư không sách, Binh Thư không chữ, vì ‎đó mới là Binh Thư thực của tư tưởng Việt Nam: Binh Thư Yếu Lược là thời trời, là lợi đất, ‎là hoà người Việt Nam. Binh Thư sách đã bị ngọn lửa hung tàn của nhà Minh đốt cháy, ‎nhưng cuốn sách ấy còn dùng làm gì sau khi nó đã vẻ vang chiến thắng quân Nguyên ? Còn ‎lại là cái tin tưởng và cái tinh thần mà Lê Lợi và Nguyễn Trãi cùng với toàn dân đã thừa ‎hưởng của Binh Thư, với những chiến lược mới phải được sáng tạo ra để đánh đuổi một kẻ ‎thù mới, và lập nên nền đại định Bình Ngô.‎

      Thế nhưng có còn một chút di tích gì của tư tưởng chính trị Việt Nam trong kinh sách ‎không ?‎

      Một ngàn năm trước đây, vào khoảng thập niên từ 980 đến 990, không phải 70 năm của sự ‎thành lập Liên Xô, không phải 200 năm của sự ban hành hiến pháp Hoa Kỳ, cũng không ‎phải thiếu đầy 200 năm kỷ niệm cuộc cách mệnh Pháp, một ngàn năm trước đây, trong nền ‎độc lập mới còn chập chững của nước Ðại Việt ta, vua Lê Ðại Hành (ở ngôi từ 980 đến ‎‎1005) đã hỏi pháp sư Ðỗ Pháp Thuận (mất năm 991) về vận nước. Sư Pháp Thuận nói kệ để ‎trả lời vua; kệ rằng: ‎

      Quốc tộ như đằng lạc
      Nam thiên lý thái bình
      Vô vi cư điện các
      Xứ xứ tức đao binh

      Dịch là:‎

      Vận nước như dây quấn
      Trời Nam thấy Thái Bình
      Vô vi ngự cung điện
      Muôn xứ dứt chiến chinh

      (Xin xem tiếp phần dưới)

      Xóa
    2. Ðây là sách lược chính trị để mở nước, sau mười thế kỷ Bắc thuộc. Triều đại nhà Ngô, mặc ‎dầu đã chiến thắng quân Nam Chiếu một cách lẫy lừng trên sông Bạch Ðằng, nhưng còn ‎lung lay và chưa có chính sự. Loạn mười hai sứ quân được dẹp bởi Ðinh Bộ Lĩnh, người ‎anh hùng thôn dã, nhưng nhà Ðinh còn phải nấu vạc dầu và nuôi cọp dữ để giữ vững ngôi ‎vua mà vẫn còn bị tiêu diệt bởi mũi dao của kẻ thích khách. Lê Ðại Hành lên ngôi trong sự ‎đàm tiếu của bọn anh em tay chân của Ðinh Bộ Lĩnh, phương Bắc thì nhà Tống đem quân ‎xuống để mưu đồ tái chiếm vùng đất thuộc cũ, miền Nam thì Chiêm Ba bắt sứ và khinh khi ‎nền độc lập còn thơ ấu của nước Việt Nam. Dầu đã là Thập Ðạo Tướng Quân Lê Hoàn, vua ‎Lê Ðại Hành cũng không khỏi có những bối rối lo âu. Sự mầu nhiệm kỳ diệu là vua Lê Ðại ‎Hành, một quân nhân vừa ra khỏi đêm tối của thời trung cổ bán khai, đã quay sang một nhà ‎sư học sĩ để hỏi việc nước. Và chúng ta được thấy sự khai sinh của tư tưởng chính trị Việt ‎Nam trong văn chương chữ nghĩa.‎

      Quốc tộ như đằng lạc, vận nước như dây quấn. Những dây mây trong rừng, dây sắn dưới ‎ruộng, quấn quít chằng chịt vào nhau như dây đan, như dệt, dựa vào nhau mà đứng vững ‎trong gió bão, như trường thành. Ðó là cái hình ảnh của xã hội. Các nghề nghiệp lồng vào ‎nhau, các giai tầng tựa vào nhau. Sự liên đới và đại đoàn kết của toàn dân là nền tảng của sự ‎vững bền của vận nước. Người dân Việt Nam hiểu rõ điều ấy từ ngàn xưa. Tục ngữ ca dao ‎nối tiếp vào bốn câu kệ của Thiền Sư Pháp Thuận mà giải thích thêm. `Vì cây dây quấn`, ‎người ta nói. Những sợi mây xoắn vào nhau, móc vào nhau, khoác chặt lấy nhau là vì sự ‎sống còn và vững mạnh của cả cây mây. Cũng như toàn thể dân trong nước, sát cánh nhau ‎trong sự đấu tranh chung, là để giữ nước và xây dựng nước. Vì nước, tất cả các dây người ‎cũng quấn; tay khoác tay, sự hợp quần phải chặt chẽ, trận tuyến phải dầy đặc. Cây là gốc ‎của dây. Nếu người lãnh đạo hiểu được rằng `vận nước như dây quấn` thì người dân sẽ đáp ‎ứng lại rằng toàn dân đã sẵn sàng, không trừ một giới nào. Dân là đằng lạc, quốc tộ là do ‎dân.‎

      Trong cái đằng lạc ấy, không phải là sự hỗn độn, không có sự tranh chấp. Dây già, dây non, ‎dây cao, dây thấp, thậm chí đến cả dây chết, dây sống cũng vẫn ôm nhau, quyện nhau, ‎không rời, không nhả, chia sẻ với nhau những nỗi khó khăn khổ cực của đời sống giữa rừng ‎già. Thế nhưng `rút dây động rừng `chỉ cần cho kẻ lạ thấy được một cái đầu mối nào đó để ‎rút ra một sợi mây thì cả rừng mây sẽ bị động và dầu là một cơ cấu thiên niên vạn đại cũng ‎có thể sụp đổ. Ðến thế kỷ thứ hai mươi này, người ta sẽ gọi đó là `cách mệnh`. Cách mệnh là ‎rút ra một sợi dây của đằng lạc và gieo cái ý thức rằng sợi dây cao đè sợi dây thấp, sợi dây ‎già buộc sợi dây non, và phải rút đi một sợi dây thì thiên hạ mới thái bình. Ðó không phải là ‎tư tưởng chính trị Việt Nam. Ðó là tư tưởng loạn nước loạn dân. Nhóm lên ngọn lửa đấu ‎tranh giai cấp là chính thức hoá nội loạn. Ðó là một tư tưởng ngoại xâm.‎

      Tư tưởng lập quốc của Việt Nam nói ra rất rõ:‎

      Vận nước như dây quấn
      Trời Nam thấy thái bình

      Hiểu rõ rằng nước là dân và toàn dân phải như dây quấn thì mới tạo được hoà bình ở trời ‎Nam: làm lịch sử là kiến tạo hoà bình vĩnh cửu, chứ không phải là gieo rắc thù hận và những ‎mầm mống của đấu tranh không cùng.‎‎ ‎ ‎

      (Xin xem tiếp phần dưới)

      Xóa
    3. Vô vi cư điện các ‎

      ‎ ‎ Vô vi cư điện các. `Không làm` trong chốn quyền quý. Ðây là lời dạy vua quan trong sự cai ‎trị. Vô vi là không làm. Không phải sự vô vi của Lão Tử, cưỡi con lừa già ra khỏi cổng thành ‎để làm một Thái Thượng Lão Quân, ngồi nấu thuốc trường sinh bất lão. Mà là sự vô vi của ‎Ðạo Phật. Sư Pháp Thuận là người Thiền Môn, không là một đạo sĩ. Trong Ðạo Phật, vô vi ‎là sự không làm những cái không phải là Bát Chánh Ðạo, quan trọng hơn hết thẩy là sự ‎không làm hại, ahimsa, mà sau này Mahatma Gandhi coi là sự dũng cảm tối hậu và phương ‎châm chính trị tối cao. Trong Ðời, vô vi là không can thiệp, không bắt ép, không bó buộc, ‎không phá rối truyền thống, pháp luật, và tín ngưỡng mà nhân dân đã thuận theo trong tự do, ‎và cuối cùng, không mượn những cớ giả dối để đem quân đi chiếm đóng một nước khác. Ðó ‎là những lời dạy của chính Phật Như Lai, về dân nước Vajji. Vô vi là cái cực đối lập với ‎chuyên chế. Chính trị vô vi tôn trọng dân quyền và nhân quyền. Chính trị vô vi có một điều ‎kiện căn bản: nhân dân phải như dây quấn. Khi tất cả mọi giới đã ràng buộc lấy nhau trong ‎cái thế liên kết, liên đới, liên thuộc, thì hoà bình trong xã hội tự nhiên được thực hiện, mọi ‎sự cưỡng bách từ trên xuống trở thành vô nghĩa. Một xã hội yên vui không cần phải có một ‎Ðảng lãnh đạo và cũng chẳng phải mướn một nhà nước quản lý. Những cái đó là những phát ‎minh thời đại của những đỉnh cao trí tuệ, nhìn vào một cái sơ đồ của xã hội Âu Tây bệnh ‎hoạn. rồi cho rằng lịch sử của loài người chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp, và mọi xã hội đều ‎được cấu tạo với hai lớp người, kẻ bóc lột và người bị bóc lột. Hãy so sánh cái xã hội thô sơ ‎ấy với tư tưởng Việt Nam ở cuối thế kỷ thứ mười, trong câu kệ của Thiền Sư Pháp Thuận : ‎Vận nước như dây quấn : cơ cấu xã hội phức tạp là thế, chặt chẽ là thế, nhưng vẫn có tự do ‎vì một dây mây cá nhân vẫn có thể trồi từ lớp này lên lớp khác mà không cần phải có một kế ‎hoạch nào của nhà nước chỉ huy cả.‎

      Bởi vậy cho nên không những có được hoà bình xã hội mà có được cả hoà bình trong loài ‎người.‎

      Xứ xứ tức đao binh
      ‎(Mọi nước dứt chiến chinh)‎

      (Xin xem tiếp phần kết dưới)

      Xóa
    4. Một bài kệ nhỏ, vỏn vẹn chỉ có bốn câu, đã gói ghém, với những hình ảnh tuyệt đẹp, từ cung ‎điện đến đời sống dân gian, từ vận nước đến cái thế lớn trong thiên hạ, và từ đầu đến cuối ‎thoát ra một hương sắc Thiền nhẹ nhàng thanh nhã, luyện cái thiên nhiên vào cái trừu tượng ‎rồi chuyển cái trừu tượng vào cái thực tế, và đồng thời, đem cái tư tưởng chính trị Việt Nam ‎diễn ra, sáng như trăng rằm, trong như ngọc bích, thực là kỳ tuyệt. Mở sử ra đọc lại, thấy ‎những lời của Trần Hưng Ðạo dặn dò vua trước khi chết, cũng là cái tinh thần ấy, nhưng ‎chân phương là chừng nào, khẩn thiết là chùng nào ; thực là lời của vị võ thần giữ nước, ‎nhìn thấy một chiến lược toàn diện và hiểu rằng nồng cốt của nước là dân. Xem đến Bình ‎Ngô Ðại Cáo của Lê Lợi - Nguyễn Trãi: vẫn là cái tư tưởng chính trị căn bản xưa, nhưng ‎phát triển ra lâm ly dũng mãnh, lúc như gió rít trong ngàn cây, lúc như sóng thần từ lưng trời ‎đổ xuống, từ đầu đến cuối chỉ vì nước vì dân, coi dân là nước và nước là dân, rồi cuối cùng ‎cũng chứng tỏ sự vô vi trong uy vũ để mua lấy một nền hoà bình vinh quang vĩnh cửu. Tư ‎tưởng chính trị Việt Nam có một truyền thống, cho đến lúc ấy chưa bao giờ bị thực sự gián ‎đoạn. Nhưng vài trăm năm sau đó thì rừng mây bắt đầu bị xẻ ra. Rồi vài chục năm gần đây, ‎người trong nước đã khởi sự rút mây. Tư tưởng chính trị Việt Nam bị ô nhiễm đến độ rằng ‎những bậc thức giả trong nước cũng không nhìn thấy nữa.‎

      Nay là lúc chúng ta phải gạn đục khơi trong lại. Dòng tư tưởng của Việt Nam ở ngưỡng cửa ‎của thế kỷ thứ hai mươi mốt tất nhiên không thể vẫn là bốn câu thơ của sư Pháp Thuận. ‎Lịch sử Việt Nam cũng không dừng lại ở thời Lê Ðại Hành. Qua mỗi lần chuyển mình của ‎lịch sử, tư-tưởng Việt Nam đã thay đổi và còn phải luôn luôn thay đổi. Nhưng chúng ta ‎quyết không để cho một bọn ngụy trí thức, trong sự ngu tối và cuồng-loạn vọng-ngoại, xoá ‎bỏ đi bốn ngàn năm lịch sử tư tưởng của Việt Nam để thay thế bằng cái quái thai đầu Ðức ‎mình Nga gọi là chủ nghĩa Mác-Xít Lê-Nin-Nít.‎

      Trần Ngọc Ninh

      Xóa
  3. Đảng cộng sản là gì?

    Lời mở đầu

    Hơn 5000 năm qua, dân tộc Trung Hoa được nuôi dưỡng bởi châu thổ sông Hoàng Hà và sông Trường Giang, gây dựng giống nòi, trải qua bao nhiêu triều đại, mới thiết lập được một nền văn minh rực rỡ, sáng lạn. Trong suốt thời gian có thành lập, có sụp đổ, có hưng thịnh, có suy vong, những câu chuyện hào hùng xẩy ra trong sóng gió bao la của những cuộc đổi thay đã làm lòng người xúc động.

    Năm 1840, các sử gia nhìn nhận rằng đó là cái mốc đánh dấu khởi điểm của lịch sử Trung Quốc đang chuyển từ thế kỷ Trung Cổ đi sang hiện đại hóa. Bắt đầu từ đó, nền văn minh Trung Hoa đại khái đã trải qua bốn lần ứng phó cho các trận sóng bão khiêu chiến. Ba trận sóng bão khiêu chiến đầu tiên là: Liên quân Anh-Pháp xâm chiếm Bắc Kinh hồi đầu thập niên 1860; chiến tranh Trung Quốc-Nhật Bản vào năm Giáp Ngọ 1894, và chiến tranh Nga-Nhật ở vùng đông bắc Trung Quốc vào năm 1906. Đối với 3 cuộc khiêu chiến này, Trung Quốc đã đáp ứng bằng phong trào Tây hóa với sự nhập cảng hàng hóa hiện đại và vũ khí, cùng với sự cải cách chế độ ( tức là ban hành Hiến Pháp sửa đổi năm Mậu Tuất 1898 [1], và Đại Thanh Lập Hiến vào cuối đời nhà Đại Thanh ), và sau đó là Cách Mạng Tân Hợi năm 1911 [2].

    Sau Thế Chiến Thứ Nhất, mặc dù thuộc phe thắng trận, nhưng lợi ích của Trung Quốc vẫn không được những cường quốc trông coi đến. Thời bấy giờ, nhiều người Trung Hoa cho rằng ba lần ứng phó đầu cho các trận sóng bão nói trên đã hoàn toàn thất bại. Do vậy cuộc Vận Động mùng 4 tháng 5 [3] xuất hiện, từ đó mà bắt đầu lần ứng phó thứ tư cho các trận sóng bão này, mà cũng là sự đáp ứng cuối cùng trên một bình diện; bình diện văn hóa được hoàn toàn chuyển sang ‘Tây hoá'. Theo sau đó, là cách mạng cực đoan bắt đầu, tức là sự vận động cho chủ nghĩa cộng sản.

    Trọng tâm của bài bình luận này là nói về kết quả của một sự ứng phó sóng bão cuối cùng của Trung Quốc đối với cuộc vận động cho chủ nghĩa cộng sản và Đảng cộng sản. Nhìn vào lịch sử 160 năm vừa qua của Trung Quốc để phân tích xem, với gần 100 triệu người dân thường bị chết mờ ám, hầu hết tất cả văn hóa và văn minh truyền thống của dân tộc Trung Quốc bị tàn phá, dù đó là chọn lựa của người dân Trung Hoa hay là bị bên ngoài cưỡng bức, thì kết quả thực sự là như thế nào?

    I. Dùng khủng bố bằng bạo lực để chiếm đoạt và duy trì chính quyền

    “Bọn Cộng sản chẳng thèm che giấu quan điểm và ý đồ của bọn họ. Bọn chúng công khai tuyên bố rằng mục đích của chúng chỉ có thể đạt được bằng cách dùng bạo lực lật đổ toàn bộ chế độ xã hội hiện tại”[4], đoạn cuối cùng bản Tuyên ngôn của Cộng Sản kết luận như thế. Bạo lực là thủ đoạn mà Đảng cộng sản dùng để cướp đoạt chính quyền, và cũng là thủ đoạn duy nhất. Đó là cái nhân di truyền đầu tiên được quyết định từ ngày Đảng cộng sản chào đời cho đến hôm nay.

    Thực ra, Đảng cộng sản đầu tiên trên thế giới, phải nhiều năm sau khi Karl Marx qua đời mới được thành lập. Năm thứ hai sau Cách mạng Tháng Mười của Nga (1917), Đảng cộng sản Nga (Bôn-sê-vích) đã chính thức khai sinh, đó là tiền thân của Đảng cộng sản Liên Xô sau này. Đảng cộng sản này sinh ra trong sự thực hành bạo lực đấu tranh vũ trang đối với các " kẻ thù giai cấp", đồng thời đã liên tục dùng bạo lực để đàn áp những người của chính mình và những người dân thường để duy trì sự tồn tại của Đảng. Riêng trong cuộc thanh trừ nội bộ của Đảng cộng sản thời Stalin vào những năm 1930, Đảng cộng sản Liên Xô đã tàn sát hơn 20 triệu người, những người mà họ gán cho tội danh như ‘gián điệp’, hoặc ‘phản quốc’, và bất cứ ai không đồng ý kiến.

    Đảng cộng sản Trung Quốc, khi thành lập chính là một chi bộ của Cộng sản Quốc tế Đệ Tam mà chịu sự khống chế của Đảng cộng sản Liên Xô, nên tự nhiên đã kế thừa loại truyền thống bạo lực này. Riêng trong thời kỳ nội chiến giữa Đảng Cộng Sản và Quốc dân Đảng của Trung Quốc, từ năm 1927 đến năm 1936, dân số tỉnh Giang Tây đã giảm từ hơn 20 triệu xuống khoảng 10 triệu. Chỉ riêng con số ấy đã nói lên sự thiệt hại mà Đảng cộng sản Trung Quốc gây ra bằng bạo lực.

    (Xin xem tiếp phần dưới)

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Nếu như nói rằng, bạo lực có thể không tránh khỏi trong chiến tranh của chính quyền khủng bố, thì trên thế giới chưa bao giờ có một chính quyền nào mà trong thời hòa bình , vẫn cứ tiếp tục yêu chuộng bạo lực như Đảng Cộng sản. Tính từ năm 1949 đến nay, số người dân Trung Quốc bị tàn sát do bạo lực của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã vượt quá số người chết trong thời chiến từ năm 1927 đến năm 1949.

      Một trong những ví dụ điển hình về thành tích khát máu của Đảng Cộng sản Trung Quốc mà ai cũng biết, là sự ủng hộ toàn lực vũ trang cho Khờ-me Đỏ. Sau thời Khờ-me Đỏ nắm quyền, một phần tư người dân Căm-Bốt, trong đó đại đa số là người di dân Hoa Kiều và con cháu của họ, đã bị tàn sát. Đến tận hôm nay chính quyền Đảng cộng sản Trung Quốc vẫn không ngừng ngăn cản cộng đồng quốc tế đưa Khờ-me Đỏ ra công lý, vì mục đích đương nhiên là muốn che đậy vai trò lừng danh của Đảng cộng sản Trung Quốc trong cuộc diệt chủng ấy.

      Điều tất yếu phải nêu ra là những chính quyền tàn bạo và các căn cứ võ trang tàn bạo nhất trên thế giới hiện nay đều có quan hệ mật thiết với Đảng Cộng sản Trung Quốc. Không chỉ riêng có Khờ-me Đỏ của Căm-Bốt, mà còn có Đảng cộng sản Nam Dương, Cộng sản Phi luật Tân, Cộng sản Mã-lai, Cộng Sản Việt Nam, Cộng Sản Miến Điện, Cộng Sản Lào, Đảng Cộng sản Nê-pal, vân vân… tất cả được thành lập là đều do bàn tay của Đảng cộng sản Trung Quốc ủng hộ, chống đỡ. Nhiều lãnh tụ của các Đảng cộng sản này là người Trung Hoa, mà một số trong đó giờ đây vẫn đang ẩn nấp tại Trung Quốc.

      Hơn nữa trên thế giới, lấy chủ nghĩa Mao Trạch Đông làm tôn chỉ cho Đảng cộng sản còn có Đường Quang Minh của Nam Phi, Hồng Quân của Nhật bản. Những tổ chức tàn bạo như vậy đều bị cộng đồng thế giới phỉ nhổ và lên án.

      Một trong những lý luận ban đầu mà chủ nghĩa cộng sản dùng là Tiến Hoá Luận. Đảng cộng sản dùng sự cạnh tranh giữa các loài, để suy diễn ra đấu tranh giai cấp trong sự tiến hóa của xã hội. Họ cho rằng đấu tranh giai cấp là động lực duy nhất giúp xã hội phát triển tiến bộ. Bởi vậy "Đấu tranh" đã trở thành "Tín Ngưỡng" chủ yếu để duy trì sự sinh tồn của chính quyền Đảng cộng sản. Một trong những câu nói nổi tiếng của Mao Trạch Đông — “ Với tám trăm triệu người, làm sao mà không đấu tranh” — đã nói trắng ra cái lý luận để sinh tồn này.

      Mao Trạch Đông còn có một câu nổi tiếng tương tự rằng " Đại Cách mạng Văn hoá cần phải xẩy ra mỗi lần trong 7 hay 8 năm”[5]. Sử dụng bạo lực nhiều lần lặp lại là một trong những thủ đoạn quan trọng bậc nhất của chính quyền Đảng cộng sản nhằm duy trì quyền thống trị. Mục đích của bạo lực là tạo ra sự sợ hãi. Mỗi lần vận động đấu tranh đều là một lần Đảng Cộng sản huấn luyện sự khủng hoảng tinh thần của người dân, làm cho nhân dân run sợ trong lòng mà khuất phục, làm họ dần dần trở thành nô lệ của sợ hãi.

      Hiện nay chủ nghĩa khủng bố đã biến thành kẻ thù số một của toàn thể thế giới tự do và văn minh. Nhưng Đảng Cộng sản không hề từ bỏ chủ nghĩa khủng bố bằng bạo lực, mà trái lại còn triển khai sâu rộng, lâu dài hơn nữa dựa vào bộ máy chính quyền đương thời. Nó đã có quy mô lớn hơn, có sức tàn phá mạnh mẽ hơn. Ngày nay đã sang thế kỷ 21 rồi, chúng ta không thể quên được tính chất di truyền này của Đảng cộng sản, bởi vì đến lúc thích hợp, điều này nhất định đối với tương lai của Đảng Cộng Sản sẽ có tác dụng quyết định cho nó hướng đi như thế nào.

      II. Dùng lời dối trá làm bàn đạp ngon trớn cho bạo lực

      Trình độ văn minh của nhân loại có thể được đo lường qua mức độ mà bạo lực được sử dụng trong chế độ. Xã hội của chính quyền Cộng sản, hiển nhiên là một lần nữa bước lùi lại rất xa với văn minh của nhân loại. Nhưng tiếc thay, Đảng Cộng Sản lại có thể thành công trong sự việc người đời tưởng chúng đang trên đà tiến bộ. Những người này cho rằng, sử dụng bạo lực, không những đưa đến sự tiến bộ của xã hội mà còn là một quá trình tất yếu và tự nhiên.

      (Xin xem tiếp phần dưới)

      Xóa
    2. Sự chấp nhận bạo lực này, phải nói rằng, chính là kết quả của việc vận dụng lời dối trá lường gạt có một không hai của Đảng cộng sản. Vì vậy lường gạt và dối trá là một cái nhân di truyền khác của Đảng cộng sản.

      “Từ thủa bé thơ, chúng ta đều thấy nước Mỹ là một quốc gia đặc biệt đáng mến. Chúng ta tin điều này, một phần vì trên thực tế nước Mỹ chưa từng chiếm cứ Trung Quốc, cũng chưa hề phát động chiến tranh với Trung Quốc. Suy nghĩ sâu hơn nữa, thì người Trung Quốc luôn mang ấn tượng tốt đẹp về Mỹ quốc, chính vì dân tính của người dân Mỹ phát xuất ra phong độ dân chủ và một tâm rộng lượng.”

      Đó là một đoạn văn trích trong xã luận đăng ngày 4 tháng 7 năm 1947 trên ‘Tân Hoa nhật báo’ (tờ báo chính thức của Đảng cộng sản Trung Quốc). Nhưng chỉ vỏn vẹn 3 năm sau đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã gởi quân đến đánh nhau với quân Mỹ tại Bắc Hàn, và người dân Mỹ đã được Đảng Cộng sản Trung Quốc mô tả như những phần tử của chủ nghĩa đế quốc tà ác nhất trên thế giới. Bất kể người Trung Quốc nào đến từ Trung Hoa Đại Lục, nếu đọc được bài xã luận này, viết 50 năm trước đó của Đảng cộng sản Trung Quốc, cũng phải cảm thấy vô cùng kinh ngạc. Đảng cộng sản Trung Quốc đã cấm ngặt tất cả xuất bản thuộc loại văn chương tương tự có liên quan đến bài xã luận như thế, mà chỉ phát hành các bài đã được Đảng viết lại.

      Từ ngày nắm quyền, Đảng Cộng sản Trung Quốc vẫn diễn đi diễn lại thủ đoạn tương tự trong mỗi một phong trào , gồm có cuộc thanh trừng Phản-cách mạng (1950-1953), công ty quốc gia và tư nhân Hợp Doanh (1954-1957), thanh trừng phe Cánh Hữu (1957), Đại Cách mạng Văn hoá (1966-1976), thảm sát sinh viên học sinh ngày 4 tháng 6 năm 1989 tại Thiên An Môn, và gần đây nhất là cuộc đàn áp Pháp Luân Công từ năm 1999. Tai tiếng nhất phải kể đến cuộc đàn áp phần tử trí thức năm 1957. Đảng cộng sản Trung Quốc kêu gọi các phần tử trí thức phát biểu ý kiến của họ, rồi sau đó lấy ngay những bài họ viết làm ‘bằng chứng’ để khép họ vào tội ‘theo Cánh Hữu’ để thanh trừng họ. Đến khi bị người ta phê phán tại sao lại dùng “âm mưu” như thế, thì Mao Trạch Đông nói thẳng: “Đó không phải âm mưu, mà là ‘dương’ mưu — tao làm công khai đấy chứ.”

      Lường gạt và dối trá đóng vai trò cực kỳ đắc lực giúp Đảng cộng sản chiếm đoạt và bảo vệ quyền lực. Từ xưa đến nay, niềm tin tưởng quan trọng nhất của các phần tử trí thức Trung Quốc vẫn là lịch sử của mình. Trung Quốc là một quốc gia có lịch sử được ghi chép lâu đời nhất, và hoàn chỉnh nhất trên thế giới. Người Trung Hoa vẫn lấy lịch sử làm tấm gương phản chiếu để phán đoán hiện thực, thậm chí còn noi theo những nhân vật mẫu mực trong lịch sử để tự răn dạy bản thân và nâng cao đạo đức. Vì thế, bóp méo, sửa đổi và che giấu sự thật của lịch sử cũng là thủ đoạn trọng yếu để thống trị của Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Các giai đoạn lịch sử từ thời Xuân Thu Chiến Quốc xa xưa (770-221 trước Công Nguyên) cho đến Cách mạng Văn hoá, đều bị Đảng cộng sản Trung Quốc không ngừng che giấu, bóp méo và sửa đổi chuyện kể lại bằng những thủ doạn tuyên truyền lừa mị. Lịch sử trong các sách mới xuất bản suốt 55 năm qua (từ 1949) đều bị sửa lại. Tất cả những cố gắng để khôi phục lại lịch sử nguyên gốc đều bị Đảng Cộng sản Trung Quốc cấm ngặt và diệt trừ.

      Khi bạo lực không đủ mạnh để duy trì quyền lực và che đậy các sửa chữa , thì lường gạt và dối trá lập tức được Đảng cộng sản dùng đến. Dối trá là một mặt khác của bạo lực, và cũng là cái bàn đạp ngon trớn cho bạo lực.

      (Xin xem tiếp phần dưới)

      Xóa
    3. Phải nhìn nhận rằng, dối trá và lường gạt không phải do Đảng cộng sản phát minh chế tạo ra, chẳng qua chỉ là Đảng cộng sản sử dụng thủ đoạn lưu manh tự cổ chí kim này một cách công khai mà không biết hổ thẹn mà thôi. Đảng cộng sản Trung Quốc hứa hẹn đất đai cho nông dân, hứa nhà máy cho công nhân, hứa tự do và dân chủ cho các phần tử trí thức, hứa hẹn hoà bình. Nhưng đến nay không hề có lời hứa nào được thực hiện. Một thế hệ người Trung Quốc bị lường gạt và đã qua đời, lại một thế hệ khác của người Trung Quốc nay cũng đang bị Đảng cộng sản mê hoặc bằng bưng bít thông tin và tuyên truyền lường gạt. Đây chẳng phải là niềm đau thương lớn nhất và cũng là nỗi bất hạnh nhất của dân tộc Trung Hoa hay sao?

      III. Lập trường nguyên tắc biến đổi không ngừng

      Trong cuộc biện luận tranh cử tổng thống Mỹ năm 2004 vừa qua, có một ứng cử viên phát biểu rằng, người ta có thể thay đổi chiến lược về vài vấn đề khi cần thiết, nhưng họ không thể, nói chung, chuyển đổi “ niềm tin” hoặc “nguyên tắc” của vấn đề mà họ nhìn nhận, nếu không người này là người “không thể tin được”[6]. Câu nói này thực sự làm rõ ràng một tính chất.

      Đảng cộng sản chính là điển hình về mặt này. Lấy Đảng cộng sản Trung Quốc làm ví dụ, thì từ ngày thành lập 80 năm trước đến nay, đã trải qua 16 đại hội với đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng Sản Trung Quốc, mà cũng đã thay đổi, sửa chữa luật lệ của Đảng 16 lần. Trong 50 năm sau khi chiếm đoạt chính quyền , Đảng cộng sản Trung Quốc đã có 5 lần sửa đổi lớn Hiến Pháp của Trung Quốc.

      Lý tưởng của Đảng cộng sản là sự công bằng của xã hội, để rồi cuối cùng thực hiện theo chủ nghĩa cộng sản. Nhưng dưới sự thống trị của Đảng cộng sản, Trung Quốc hôm nay là một trong những quốc gia phân biệt giầu nghèo nhất trên thế giới. Rất nhiều đảng viên Cộng sản giàu sụ, trong khi quốc gia có khoảng 800 triệu người dân đang sống trong cảnh bần cùng.

      Tư tưởng của Đảng cộng sản Trung Quốc ban đầu là chủ nghĩa Karl Marx-Lenin. Sau đó nhồi thêm tư tưởng của Mao Trạch Đông. Rồi đắp thêm vào đó là lý luận của Đặng Tiểu Bình. Và giờ đây lại có thuyết “tam đại biểu” của Giang Trạch Dân được gắn lên nữa. Thực ra ngay tư tưởng và chủ nghĩa của Mác-Lê và Mao so với lý luận của họ Đặng và thuyết 'Tam đại biểu' của họ Giang thì đã khác nhau như trâu với ngựa, không những thế chúng còn trái lại và cách xa nhau vạn dặm, vậy mà Đảng cộng sản Trung Quốc, một khi thổi phồng chúng lên, rồi đặt bệ tôn thờ để quỳ lạy các thứ ấy cùng nhau được, thì sự việc này quả thực tự cổ chí kim chỉ thấy có một.

      Các lý luận phát sinh diễn tiến của Đảng Cộng sản phần lớn là trái ngược với nhau. Đảng cộng sản chưa hề có tổ quốc, mà lại xây dựng thuyết 'toàn cầu đại đồng', đến hôm nay lại là chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Ban đầu Đảng tịch thu mọi tài sản tư hữu, đả đảo giai cấp tư sản bóc lột, rồi đến hôm nay chính sách của Đảng cộng sản là kết nạp các nhà tư bản vào Đảng. Nguyên tắc cơ bản của Đảng cộng sản đổi trắng thay đen thật chớp nhoáng khỏi cần nói. Trên lịch sử lập nghiệp và duy trì chính quyền, hôm nay Đảng sẵn sàng vứt bỏ nguyên tắc đang được tuyên truyền hôm qua, và ngày mai, có thể Đảng lại có một lập trường nguyên tắc mới. Thực ra dù có biến đổi thế nào đi nữa, thì mục tiêu rõ ràng, chắc chắn của Đảng cộng sản vẫn là tước đoạt và duy trì chính quyền, và hưởng thụ quyền lực trên sự lũng đoạn tuyệt đối đến xã hội.

      Trong lịch sử của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã có hơn mười phen đấu tranh về đường lối được coi là ‘sống chết’. Thực ra những phen đấu tranh đó không có gì khác hơn là những đợt thanh trừng nội bộ sau mỗi lần Đảng cộng sản thay đổi nguyên tắc và lập trường.

      (Xin xem tiếp phần dưới)

      Xóa
    4. Cần phải nói rõ là, mỗi một lần lập trường nguyên tắc được thay đổi là đều xẩy ra khi Đảng cộng sản Trung Quốc đối diện với nguy cơ khủng hoảng không tránh khỏi mà có liên quan đến việc hợp pháp hoá và vấn đề sống còn của Đảng. Lần nào Đảng cộng sản thỏa thuận nhượng bộ , như là — hợp tác với Quốc Dân Đảng, ngoại giao theo hướng thân Mỹ, cải cách và cởi mở kinh tế, đẩy mạnh chủ nghĩa dân tộc —cũng đều vì muốn chiếm đoạt hoặc củng cố vững chắc quyền lực. Cái chu kỳ tuần hoàn của mỗi một lần "Đàn áp - Vuốt ve" cũng không phải không nguyên do mà phát sinh

      Tây phương có câu ngạn ngữ rằng: chân lý là cần phải kiên trì không đổi, còn dối trá là vĩnh viễn biến hoá. Quả là rất đúng!

      IV. Lấy ‘đảng tính’ để thay thế và tiêu diệt 'nhân tính'

      Đảng cộng sản Trung Quốc là đảng phái chính trị theo thể thức của Lê-nin. Từ ngày thành lập, đã xác lập ra ba đường lối lớn để xây dựng cho Đảng: đường lối chính trị, đường lối tư tưởng, và đường lối tổ chức. Diễn đạt nôm na cho dễ hình dung là thế này: đường lối tư tưởng là cơ sở triết học của Đảng cộng sản, đường lối chính trị tức là xác lập mục tiêu, rồi sau đó lấy hình thức tổ chức nghiêm nhặt để thực hiện mục tiêu này .

      Đảng viên của Đảng cộng sản cho đến nhân dân của xã hội cộng sản , đòi hỏi phải tuyệt đối phục tùng. Đó chính là toàn bộ nội dung của đường lối tổ chức.

      Ở Trung Quốc, người ta nói chung đều biết đến hai đặc tính quan trọng về tư cách con người của một đảng viên Đảng cộng sản. Tại gia đình và hoàn cảnh riêng tư, một đảng viên Đảng Cộng sản vẫn có đầy đủ ‘nhân tính’ như một con người bình thường, buồn vui hờn giận, có ưu điểm và khuyết điểm của con người. Họ có thể là cha mẹ, là vợ chồng, là bè bạn… Nhưng đặt lên trên những nhân tính này, chính là ‘đảng tính’, mà được nhấn mạnh nhất, của Đảng cộng sản. Mà 'đảng tính', theo đòi hỏi của Đảng cộng sản, là vĩnh viễn vượt trên 'nhân tính' thường tình của con người . 'Nhân tính' trở thành tương đối, có thể đổi thay, còn 'đảng tính’ là tuyệt đối, và không thể hoài nghi hay khiêu chiến.

      Trong thời kỳ Đại Cách mạng Văn hoá, cha con giết nhau, vợ chồng đấu nhau, thầy trò phản nhau, mẹ con tố cáo nhau như kẻ thù,… là những việc thường xảy ra trong quần chúng. Đó là tác dụng của 'đảng tính' mà nên. Thời kỳ đầu khi Đảng cộng sản nắm quyền, có nhiều cán bộ cao cấp của Đảng cộng sản Trung Quốc bó tay không cứu nổi người nhà khi người nhà của họ bị liệt kê vào giai cấp thù địch và bị đàn áp. Như thế cũng là tác dụng của đảng tính.

      ‘Đảng tính’ là kết quả của những huấn luyện trường kỳ do Đảng cộng sản tổ chức. Loại huấn luyện này được thực hiện ngay từ thủa nhi đồng một cách có hệ thống. Tại các trường mẫu giáo ở Trung Quốc, trẻ em được giáo dục bằng khen thưởng khi trả lời đúng, mà câu trả lời thường không theo luân thường đạo lý và nhân tính. Từ tiểu học, trung học, cho đến đại học, học sinh phải học môn chính trị, tuân theo hệ thống tư tưởng của Đảng cộng sản. Ai không học theo và không trả lời đúng theo tiêu chuẩn của Đảng đề ra thì không thể tốt nghiệp.

      Một đảng viên, bất kể ý kiến riêng tư của mình như thế nào, nhưng một khi bày tỏ thái độ với cương vị của một đảng viên, thì tất nhiên phải giữ vững nhất trí với đường lối 'tổ chức' của Đảng cộng sản. Với tổ chức nhất quán từ trên xuống dưới, Đảng cộng sản Trung Quốc sau cùng thống nhất một tập đoàn to tướng, nó tựa như một điểm cao nhất của kim tự tháp, với điều khiển tuyệt đối từ trên xuống. Đó là đặc tính kết cấu trọng yếu nhất của chính quyền Đảng cộng sản, là sự phục tùng tuyệt đối.

      (Xin xem tiếp phần dưới)

      Xóa
    5. Ngày nay Đảng cộng sản Trung Quốc đã biến thái trở thành một tập đoàn chính trị chỉ biết đấu tranh để bảo trì lợi ích bản thân. Nó từ lâu đã không còn theo đuổi mục tiêu của chủ nghĩa cộng sản nữa. Nhưng nguyên tắc tổ chức của Đảng cộng sản không hề thay đổi , sự đòi hỏi phục tùng tuyệt đối của 'đảng tính' cũng không hề biến đổi . Mà Đảng này, tự đặt mình cao hơn hết thảy, cao hơn nhân dân, cao hơn quốc gia, cao hơn pháp luật; 'đảng tính' được đặt cao hơn phương thức tồn tại của nhân loại, hơn cả 'nhân tính' và điều tự nhiên. Do đó, nó sẵn sàng trừ sạch tất cả tổ chức hoặc cá nhân nào mà nó cho rằng có thể nguy hại đến quyền lực của Đảng hoặc lãnh tụ của Đảng, không phân biệt đó là thường dân hoặc lãnh đạo cao cấp của Đảng cộng sản.

      V. Lũ quỷ tà phản tự nhiên và phản nhân tính

      Vạn vật trong trời đất đều phải trải qua mỗi chu kỳ của mạng sống bao gồm sinh ra, trưởng thành, suy yếu rồi diệt vong.

      Không giống như chính quyền của Đảng cộng sản, tất cả các xã hội của chính quyền mà không cộng sản, không kể là chuyên chế hay cực quyền đến mấy, xã hội nào cũng đều có một bộ phận của những tổ chức tự phát triển và có các thành phần tự chủ. Xã hội của Trung Quốc cổ đại, trên thực chất, là thuận theo kết cấu nhị nguyên. Nông thôn cũng có tổ chức tự phát triển với dòng tộc làm trung tâm, thành thị cũng có tổ chức tự phát với phường hội ngành nghề làm trung tâm, còn cơ cấu tổ chức từ trên xuống của vua quan về cơ bản chỉ quản lý công việc từ cấp huyện trở lên.

      Đến thời hiện đại, Đức quốc xã — có thể sánh với Đảng Cộng sản về mức độ hà khắc và cực quyền chuyên chế — vẫn cho phép có quyền tư hữu, cho phép người dân có tài sản riêng. Vậy mà các chính quyền của Đảng cộng sản đều tiêu diệt sạch những tổ chức tự phát và các thành phần tự chủ, để thay vào đó là kết cấu tập trung quyền lực triệt để, ngay từ trên xuống dưới.

      Nếu nói rằng loại hình thái xã hội trước là một loại do từ dưới lên trên, và để cho các tổ chức tự phát triển, các thành phần được tự chủ, trạng thái xã hội được trưởng thành một cách tự nhiên, thì như vậy chính quyền của Đảng cộng sản chính là một loại trạng thái xã hội phản tự nhiên.

      Cái lý lẽ kia của Đảng cộng sản không chứa đựng tiêu chuẩn nhân tính phổ biến của con người. Khái niệm lương thiện và tham ác, tiêu chuẩn pháp luật và nguyên tắc đã bị bóp méo, thay đổi một cách tuỳ tiện. Luật của cộng sản cấm sát nhân, ngoại trừ giết những ai mà Đảng quyết định là kẻ thù. Hiếu cha kính mẹ là tốt, nhưng nếu cha mẹ bị loại vào giai cấp thù địch của Đảng thì không được hiếu thuận. Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, vốn là tốt, ngoại trừ khi Đảng không muốn hoặc không bằng lòng . Những tiêu chuẩn làm người trong truyền thống dân tộc nay bị Đảng trút đổ và xoá bỏ triệt để, vì vậy Đảng cộng sản là phản nhân tính.

      Tại tất cả các xã hội phi cộng sản, người ta nói chung đều thừa nhận rằng nhân tính Thiện và Ác đều cùng có mặt thực sự, sau đó dựa vào các khế ước cố định để đạt đến sự cân bằng của xã hội. Tuy nhiên, xã hội cộng sản không thừa nhận nhân tính, tức là không thừa nhận cái thiện lương trong nhân tính và cũng không thừa nhận cái tà ác tham lam trong nhân tính. Theo cách nói của Karl Marx, xoá sạch quan niệm Thiện và Ác chính là tiêu trừ triệt để cái kiến trúc thượng tầng[7] của thế giới cũ.

      Đảng cộng sản không tin tưởng Thần hay Thượng đế, và cũng không tôn trọng vạn vật Tự nhiên. “Đấu với Trời, đấu với Đất, đấu với Người, hân hoan vô cùng”, đó là khẩu hiệu của Đảng cộng sản thời Cách mạng văn hoá. Đấu với Trời, đấu với Đất, tàn sát nhân dân.

      Người Trung Quốc xưa nay vẫn tin rằng con người phải hoà hợp làm một với trời đất. Trong Đạo Đức Kinh, Lão Tử giảng rằng: “Người thuận theo Đất, Đất thuận theo Trời, Trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo Tự Nhiên”[8], con người hoà hợp với tự nhiên là một trạng thái liên tục của vũ trụ.

      Đảng cộng sản cũng là một loại sinh mạng, nhưng đó là sinh mạng phản Tự Nhiên, phản Trời, phản Đất, phản Người, là một loại sinh linh tà ác phản vũ trụ.

      (Xin xem tiếp phần dưới)

      Xóa
    6. VI. Những biểu hiện đặc biệt của phụ thể tà linh

      Tổ chức của Đảng cộng sản, bản thân nó không bao giờ có hoạt động sản xuất hay phát minh gì hết. Một mai, khi nắm được chính quyền, nó liền gắn bám vào nhân dân để thao túng và khống chế người dân; khống chế xuống tận từng đơn vị nhỏ bé nhất trong dân chúng để giữ gìn quyền lực, đồng thời là để lũng đoạn tài nguyên của quốc gia có được từ ban đầu, và để vơ vét tài vật của xã hội.

      Ở Trung Quốc, tổ chức của Đảng cộng sản len lỏi đến tất cả mọi nơi, quản lý tất cả mọi thứ, nhưng nhân dân không có ai đã từng thấy được hồ sơ thu chi và dự tính về tài chính của Đảng cộng sản. Người ta chỉ thấy có báo cáo dự tính của quốc gia, của chính quyền địa phương, dự tính của doanh nghiệp,… chứ không bao giờ có báo cáo thu chi của Đảng. Từ chính quyền trung ương cho đến uỷ hội nông thôn, tất cả viên chức hành chính đều bị xếp vào cấp dưới viên chức của Đảng, vì thế các nhân viên hành chánh phải tuân theo chỉ thị từ các tổ chức của Đảng ngang cấp bực. Chi tiêu của Đảng cộng sản là do các đơn vị hành chánh cung cấp, nhưng không có hạng mục thống kê báo cáo.

      Cách tổ chức này của Đảng — giống một con quỷ nhập xác ăn bám to tướng — đang bám chặt như hình với bóng vào từng tế bào đơn nguyên nhỏ nhất của xã hội Trung Quốc, len vào từng thớ thịt, găm vào từng mạch máu, để khống chế và thao túng nhân dân cũng như để rút kiệt tài nguyên xã hội.

      Kết cấu ma quái của một sinh linh phụ thể như vậy trong lịch sử nhân loại đã từng có lúc xuất hiện, hoặc có tính cách cục bộ, hoặc có tính cách nhất thời, nhưng chưa bao giờ tồn tại vừa triệt để, rộng khắp, vừa kéo dài quá lâu, ổn định như Đảng cộng sản.

      Cho nên, nông dân Trung Quốc mới bần cùng nghèo khổ đến thế. Họ đang cõng trên lưng không chỉ các viên chức hành chính theo thông lệ, mà còn cả các viên chức trong tổ chức của Đảng với số lượng không kém.

      Cho nên, công nhân Trung Quốc lúc nào cũng sợ thất nghiệp, sợ sa thải đại quy mô đến thế. Các vòi hút máu của con quỷ ăn bám kia, bao năm nay vẫn len vào để tham nhũng, hút cạn tiền vốn của những nhà máy và cơ sở hạ tầng.

      Cho nên, phần tử trí thức của Trung Quốc mới thấy tự do sao mà xa vời, khó khăn đến thế. Ngoài cơ cấu hành chính chủ quản ra, thì Đảng cộng sản đang chụp xuống mọi thứ, len vào mọi nơi, chỉ để giám sát và khống chế người dân mà không làm gì cho nhân dân cả.

      Con quỷ nhập xác ăn bám có một đặc điểm rất biểu hiện đặc biệt: nó bắt vật chủ phải chịu khống chế tuyệt đối về tinh thần, từ đó nó mới có thể thâu nạp năng lượng để duy trì cuộc sống của mình.

      Chính trị học hiện đại nhìn nhận rằng quyền lực trong xã hội có từ ba nguồn: bạo lực, tài phú, và tri thức. Đảng cộng sản lạm dụng bạo lực trắng trợn và ngang ngược: cướp đoạt tài sản của dân chúng — và nghiêm trọng hơn — tước đoạt quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí truyền thông của người dân, trấn áp tự do ý chí và tinh thần của người dân, tất cả là để đạt đến mục tiêu là quyền khống chế tuyệt đối toàn xã hội. Xét về mặt này, thì Đảng Cộng Sản Trung Quốc là một con quỷ nhập xác ăn bám có năng lực khống chế tinh thần rất chặt chẽ, từ xưa đến nay chưa từng xuất hiện thứ gì hung ác hơn chúng trong lịch sử của nhân loại.

      VII. Tự kiểm điểm và thoát ra khỏi khống chế của phụ thể Đảng Cộng Sản Trung Quốc

      Trong văn kiện " Tuyên ngôn của Đảng Cộng Sản", phần cương lĩnh thứ nhất của Đảng Cộng Sản, tư tưởng của Karl Marx là như thế này: “năm 1848, một âm hồn đang lang thang tại Âu Châu – âm hồn của chủ nghĩa cộng sản”[9] . Một trăm năm sau, chủ nghĩa cộng sản đã không chỉ là ‘âm hồn’ nữa, mà đã có một hình tượng vật chất cụ thể, hiện diện rõ ràng. ‘Âm hồn’ đó đã trở thành con quỷ, và trong thế kỷ qua, như một trận đại dịch lan tràn trên thế giới, nó đã cướp đi hàng trăm triệu sinh mạng, cướp đoạt của cải vật chất, và thậm chí tinh thần và linh hồn, vốn là tự do của biết bao dân chúng.

      (Xin xem tiếp phần dưới)

      Xóa
    7. (Phần Kết)

      Nguyên tắc căn bản bắt đầu của Đảng cộng sản là tước đoạt tất cả tài sản tư hữu, tiến đến sự diệt tuyệt "giai cấp bóc lột". Thực ra, tài sản tư hữu thuộc về cá nhân là nền tảng của tất cả quyền lợi xã hội mà người dân được hưởng, lắm lúc cũng là một bộ phận trọng yếu góp phần gìn giữ văn hoá dân tộc. Người dân một khi đã bị tước đoạt tài sản riêng tư, thì tất nhiên, sẽ bị tước đoạt cả tự do tinh thần và tự do ý chí, rồi cuối cùng sẽ mất nốt quyền tự do tranh thủ quyền lợi xã hội và chính trị.

      Khi đối diện trước nguy cơ sụp đổ lên đầu vào thập niên 1980, Đảng Cộng Sản Trung Quốc buộc phải tiến hành cải cách kinh tế, trả lại một số quyền lợi về tài sản tư hữu cho người dân. Điều ấy cũng đã tạo nên một lỗ hổng trong cỗ máy chính quyền của Đảng cộng sản Trung Quốc, một cỗ máy điều hành vốn đòi hỏi độ chính xác cao. Đến nay, lỗ hổng ấy càng ngày càng bị khoét rộng, nhất là vào tình trạng bây giờ khi mà toàn thể đảng viên Đảng cộng sản Trung Quốc đều điên cuồng ganh sức góp nhặt tiền của.

      Đó chính là dấu hiệu cho thấy Đảng cộng sản Trung Quốc — con quỷ phụ thể, cường bạo và gian dối, liên tục thay đổi bộ mặt — đã đến lúc suy vong. Nó run sợ và cảnh giác trước bất kể khuấy động nhỏ nào. Hơn bao giờ hết, nó đang điên cuồng góp nhặt của cải và tăng cường quân cảnh xiết chặt, điều khiển dân chúng mong kéo dài mạng sống. Nhưng chính những trạng thái hành động đó đang khoét sâu thêm lỗ hổng khủng hoảng, đẩy mạnh nó đến chỗ nguy cơ.

      Trung Quốc ngày nay, xem như là phồn vinh, nhưng nguy cơ đã chồng chất trong xã hội đang được đẩy tới mức độ căng thẳng chưa từng có. Không thay đổi tập tính của mình, chính quyền của Đảng Cộng Sản Trung Quốc vẫn đang tái diễn những thủ đoạn xưa cũ dù đã có phần thoả hiệp và tinh vi hơn — đàn áp biểu tình tại Thiên An Môn ngày 4 tháng 6 năm 1989, đàn áp Pháp Luân Công,… sau đó tìm cách ‘vuốt ve' — tất cả đều là thủ đoạn để tách một bộ phận thiểu số dân chúng mà Đảng gọi là ‘kẻ thù’ để ra oai vũ lực nhằm duy trì thống trị với hình thức nô dịch bằng khủng bố.

      Dân tộc Trung Hoa trong quá trình hơn một trăm năm phải đối diện với những thách thức lớn, đã từ nhập khẩu vũ khí, cải cách chế độ, cho đến cách mạng cực đoan một cách kịch liệt. Tổn thất vô số sinh mạng, đánh mất đi hầu hết văn minh dân tộc truyền thống, như vậy, hiện tại minh chứng rằng cách ứng phó này vẫn là một thất bại. Trong sự phẫn uất, thù hận của toàn dân, Đảng cộng sản Trung Quốc đã cướp lấy thời cơ đoạt chính quyền, và con quỷ nhập xác ăn bám ấy đã khống chế một dân tộc có truyền thống văn minh lâu đời bậc nhất thế giới này.

      Thấy rõ nguy cơ của tương lai, đại dân tộc Trung Hoa sẽ không tránh khỏi phải có quyết định lựa chọn một lần nữa. Nhưng dù là chọn thế nào, thì người dân Trung Quốc nhất định phải tỉnh táo, không nên mơ tưởng Đảng Cộng Sản Trung Quốc, mà cần nhận thức rõ ràng rằng tai nạn của dân tộc Trung Hoa thì Đảng cộng sản Trung Quốc không những không giải quyết mà còn gây thêm tranh chấp, đều làm tình huống trở nên khó khăn hơn, đều là trợ giúp con quỷ hung ác có thêm cơ hội chiếm hữu lâu hơn nữa.

      Chỉ có cách suy xét thật tỉnh táo, vứt bỏ tất cả những ảo ảnh, cương quyết không để cho thù hận và sự mưu cầu lợi ích cá nhân làm ảnh hưởng, thì chúng ta mới có thể thoát khỏi cơn ác mộng trong 50 năm qua dài đăng đẳng, do con quỷ tà Cộng Sản thêu dệt nên. Bản thân là một dân tộc tự do, chúng ta có thể tái lập nền văn minh Trung Hoa với nền tảng tôn trọng nhân tính và thiện lương cho tất cả.

      Xóa
    8. Chú Thích

      [1]. Cuộc Cải Cách 100 Ngày kéo dài 103 ngày kể từ ngày 11 tháng sáu cho tới ngày 21 tháng chín năm 1898. Hoàng Đế Quang Tự (1875-1908) của nhà Thanh ra lệnh một loạt cải cách về mặt xã hội và hành chánh mặt dầu bị phản đối kịch liệt từ nhóm thủ cựu. Với sự ủng hộ của Vương Thế Khải, Thái Hậu Từ Hy đã tạo ra cuộc chính biến vào ngày 21 tháng chín năm 1898. Bà ta đã đày Quang Tự vào biệt cung và nắm lấy chính quyền với cương vị nhiếp-chính. Cuộc Cải Cách 100 Ngày kết thúc bằng sự phế bỏ hết cả những tân chính của Quang Tự. Cùng lúc đó, sáu người chủ trương cuộc cải cách thì bị chặt đầu.

      [2]. Cách Mạng Tân Hợi, lấy tên từ năm âm lịch Tân Hợi, là cuộc lật đổ (10/10/1911 – 12/02/1912) chính quyền nhà Thanh và việc thành lập chế độ Cộng Hòa Trung Quốc.

      [3]. Phong Trào Ngày Bốn Tháng Năm là cuộc biểu tình đại qui mô đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc hiện đại và bắt đầu vào ngày 4 tháng 5 năm 1919.

      [4]. Từ http://eserver.org/marx/1848-communist.manifesto/cm4.txt

      [5]. Lá thư của Mao Trạch Đông gởi cho vợ là Giang Thanh (1966).

      [6]. Tài liệu từ http://www.debates.org/pages/trans2004a.html.

      ]7]. Siêu cơ cấu trong nội dung của lý thuyết xã hội Mác Xít đề cập tới đường lối giao tiếp giữa sự chủ quan của con người và thể vật chất của xã hội.

      [8]. Từ chương 25 trong Đạo Đức Kinh, một tác phẩm quan trọng nhất của đạo Lão, được viết bởi Lão Tử.

      [9]. Từ http://eserver.org/marx/1848-communist.manifesto/cm4.txt.

      Copyright © 2004 DAJIYUAN.COM, báo Hoa Ngữ DAJIYUAN

      Xóa
  4. các trường đại học hiên nay đang làm rất tốt công tác chính trị cho sinh viên. ta thấy rằng cứ mỗi đầu năm học nhà trường sẽ tổ chức các buổi học chính trị và đặc biệt quan tâm đến công tác chính trị cho các bạn tân sinh viên. rồi những môn học về chính trị nhưng nguyên lí Mac-lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh hay đường lối để giúp sinh viên tiếp cận một cách chính xác nhất về tình hình chính trị quốc gia cũng như giúp các bạn sinh viên phát hiện và tránh xa các thế lực phản động.

    Trả lờiXóa
  5. Việc công tác, giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên trong các trường đại học hiện nay là vô cùng quan trọng và cần thiết bởi vì các bạn sinh viên khi mà chưa được va vấp xã hội thì rất khó có cái nhìn đúng đắn về tình hình chính trị, xã hội của quốc gia và thế giới và cũng là đối tượng ma các thế lực phản động nhắm tới để lôi kéo phản động. và hiện nay công tác này cũng đang được làm một cách hết suwscn có kết quả khi mà các môn học về chính trị, những buổi sinh hoạt chính trị đầu năm và trong cả quá trình học vẫn được các nhà trường thực hiện đều đặn. đó là một việc đáng ghi nhận

    Trả lờiXóa
  6. việc giáo dục tư tưởng, đạo đức là vô cùng quan trọng trong thời kì bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay, khi mà giới trẻ dễ dàng tiếp cận với các nguồn thông tin, đúng có sai có, mà có thể là xuyên tạc, phản động về chính quyền nhà nước ta của các phàn tử phản động,

    Trả lờiXóa
  7. Nhận xét này đã bị tác giả xóa.

    Trả lờiXóa
  8. mấy phần tử phản động tuyên truyền với giọng điệu rất ngông cuồng, xuyên tác về Đảng và nhà nước ta, về tình hình thực tế xã hội trong nước và quốc tế, luôn thổi phồng một vài sai phạm của vài cá nhân, tổ chức mà phủ nhận những tiến bộ, thành tựu mà chúng ta đã đạt được, nếu không làm tốt công tác tư tưởng,thì thế hệ trẻ khó đứng vững trước những luận điệu đó

    Trả lờiXóa
  9. lực lượng sinh viên trẻ chính là tương lai của đất nước, cần tăng cường công tác giáo dục đạo đức tư tưởng chính trị, lối sống trong sạch để củng cố sự phát triển của đất nước trong tương lai, đứng vững trước những luận điệu phản động của các thế lực thù địch chống phá nhà nước ta

    Trả lờiXóa
  10. Công tác giáo dục của hệ thống XHCN chúng ta đã thành công rực rỡ, từ Mẫu Giáo cho đến Đại Học tất cả đều phải học và thông suốt tư tưởng và đạo đức hồ chí minh, vì quá thông suốt nên đất nước ta thành công trong đạo đức của bác hồ ....

    Hơn 1.000 ngày làm nô lệ tình dục cho cha ruột
    http://congly.com.vn/an-tt/hon-1-000-ngay-lam-no-le-tinh-duc-cho-cha-ruot-24819.html
    (Trịnh Văn Tấn)

    Con ruột say rượu, 'làm bậy' với mẹ già 82 tuổi
    http://ngoisao.net/tin-tuc/thoi-cuoc/hinh-su/con-ruot-say-ruou-lam-bay-voi-me-gia-82-tuoi-2864066.html
    (Nguyễn Tấn Lợi)

    Con trai hãm hiếp mẹ ruột
    http://2sao.vn/p0c1048n20121128151944031/con-troi-danh-ham-hiep-me-ruot.vnn
    (Lô Văn Hiếu)

    Bố đẻ hiếp dâm con gái
    http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=719430
    ( Đặng Văn Em)

    Cha đẻ hiếp dâm con gái ruột suốt 2 năm ròng
    http://xahoi.com.vn/an-ninh-hinh-su/toa-an-luong-tam/cha-de-hiep-dam-con-gai-ruot-suot-2-nam-rong-148683.html
    ( Bùi Thanh Hùng)

    Người cha cầm thú hiếp con gái ruột 12 tuổi
    http://ngoisao.net/tin-tuc/thoi-cuoc/hinh-su/nguoi-cha-cam-thu-2888257.html
    (Trần Văn Thực)

    Cha ruột lôi con gái vào vườn vải hiếp dâm đêm Noel
    Em gái bị 2 anh ruột cưỡng hiếp tới có thai
    Nửa đêm, con trai “thèm yêu” hiếp dâm mẹ ruột
    Anh trai “gạ tình” em gái, cưỡng hiếp cháu ruột
    (Tất cả tin loạn luân đều trong link dưới)
    http://congly.com.vn/an-tt/diem-mat-nhung-vu-hiep-dam-loan-luan-chan-dong-22195.html

    Tâm sự của người mẹ bị con ruột giở trò đồi bại
    http://congly.com.vn/phong-su/ghi-chep/tam-su-cua-nguoi-me-bi-con-ruot-gio-tro-doi-bai-22144.html

    Người mẹ trẻ bị 2 anh ruột cưỡng hiếp tới có thai
    http://www.baomoi.com/Nguoi-me-tre-bi-2-anh-ruot-cuong-hiep-toi-co-thai/104/11619041.epi

    Hãm hiếp con gái ruột 5 tuổi
    http://congly.com.vn/phap-luat/vu-viec/phan-no-voi-ke-ham-hiep-con-gai-ruot-5-tuoi-15007.html

    Quảng Ninh: Hiếp con gái 7 tuổi nhiều lần
    http://congly.com.vn/phap-luat/vu-viec/quang-ninh-chan-dung-ke-ac-dam-hiep-con-gai-7-tuoi-nhieu-lan-14529.html

    Bác ruột liên tiếp cưỡng hiếp cháu 7 tuổi
    http://congly.com.vn/phap-luat/vu-viec/dong-troi-bac-ruot-lien-tiep-cuong-hiep-chau-7-tuoi-20088.html

    Ông lão 76 tuổi hiếp dâm cô bé học lớp 8
    http://danviet.vn/phap-luat/khoi-to-ong-lao-76-tuoi-hiep-dam-co-be-hoc-lop-8/20130830104334577p1c33.htm
    (Trịnh Quang Thành)

    Đi làm về phát hiện con gái 11 tuổi bị hàng xóm cưỡng hiếp
    http://danviet.vn/phap-luat/di-lam-ve-phat-hien-con-gai-11-tuoi-bi-hang-xom-cuong-hiep/20130901075427785p1c33.htm
    (Hoàng Trọng Hiếu)

    Mẹ ruột ‘dâng’ 3 con gái cho chồng hờ hãm hiếp
    http://nguyentandung.org/me-ruot-dang-3-con-gai-cho-chong-ho-ham-hiep.html
    (Nguyễn Thị Hồng Hạnh)

    Gã dượng 4 lần hiếp dâm cháu gái vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật
    http://danviet.vn/phap-luat/ga-duong-4-lan-hiep-dam-chau-gai-van-nhon-nho-ngoai-vong-phap-luat/2013080802375020p1c33.htm

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Riêng tại xứ bác, các cháu ngoan học tập tư tưởng, đạo đức bác hồ và chúng thực hành như lời và hành động của bác!!!

      Nghệ An: Chồng nhờ bạn hiếp dâm vợ
      http://baohay.net/chong-nho-ban-hiep-dam-vo-o-nghe-an.html

      Nghệ An: 3 anh em con chú con bác thay nhau hiếp dâm thiếu nữ
      http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Phan-no-3-anh-em-con-chu-con-bac-thay-nhau-hiep-dam-thieu-nu-post121221.gd

      Nghệ An: Kẻ bệnh hoạn hiếp dâm cả cháu gái
      http://www.anninhthudo.vn/Ky-su-phap-dinh/Nghe-An-Ke-benh-hoan-hiep-dam-ca-chau-gai/499594.antd

      Nghệ An: Cụ bà 86 tuổi bị hiếp dâm khi ở nhà một mình
      http://giaoduc.net.vn/Mobile/Nghe-An-Cu-ba-86-tuoi-bi-hiep-dam-khi-o-nha-mot-minh-post115969.gd

      Nghệ An: Xin ngủ nhờ rồi hiếp dâm bé 7 tuổi
      http://soha.vn/phap-luat/nghe-an-xin-ngu-nho-roi-hiep-dam-be-7-tuoi-20131130180553128.htm

      Nghệ An: 3 thanh niên chặn xe máy hiếp dâm một thiếu nữ
      http://m.nguoiduatin.vn/nghe-an-3-thanh-nien-chan-xe-may-hiep-dam-mot-thieu-nu-a101793.html

      Nghệ An: Hai gã đàn ông già hiếp dâm một cháu bé lớp 3
      http://www.doisongphapluat.com/lien-quan/dia-phuong/tin-phap-luat/nghe-an-hai-ga-dan-ong-gia-hiep-dam-mot-chau-be-lop-3-r3635.html

      Nghệ An: Bắt khẩn cấp kẻ hiếp dâm cả mẹ ruột
      http://xahoi.com.vn/an-ninh-hinh-su/tin-113/nghe-an-bat-khan-cap-ke-hiep-dam-ca-me-ruot-120738.html

      Xóa
  11. cần tăng cường công tác giáo dục ý thức chính trị, đạo đức, tác phong cho sinh viên thông qua việc đẩy mạnh phong trào học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, giáo dục, tuyên truyền các truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của nhà Trường , đẩy mạnh giáo dục ý thức công dân, ý thức pháp luật, ý thức vệ sinh môi trường… trong sinh viên toàn Trường; tăng cường giáo dục sinh viên tinh thần vượt khó, đam mê học tập, nghiên cứu khoa học nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Đồng thời, tăng cường hơn nữa công tác quản lý sinh viên trên tất cả các lĩnh vực, trong giờ học nội khoá cũng như sinh hoạt ngoại khóa, trong khu nội trú cũng như ngoại trú, tổ chức tốt hệ thống hỗ trợ sinh viên, tăng cường lãnh đạo, phối hợp hoạt động giữa các phòng chức năng với các khoa, ban, bộ môn trực thuộc, giáo viên chủ nhiệm các lớp về công tác chủ nhiệm để công tác phục vụ và hoạt động của sinh viên đi vào nền nếp và hoạt động ngày càng có hiệu quả hơn.

    Trả lờiXóa
  12. không thể phủ nhận là một bộ phận đoàn viên thanh niên vẫn còn tỏ ra thờ ơ với phong trào đoàn. Lỗi một phần ở những người làm công tác Đoàn chưa làm tốt công tác đoàn kết tập hợp thanh niên và giáo dục truyền thống cho học sinh sinh viên. Mặt trái của cơ chế thị trường đã và đang tác động đến học sinh sinh viên. Vì vậy, nhiệm vụ hàng đầu là phải tăng cường hơn nữa việc bồi dưỡng, giáo dục, giác ngộ lý tưởng, truyền thống cách mạng, giúp thanh niên rèn luyện bản lĩnh vững vàng, vượt qua mọi khó khăn, nâng cao nhận thức cho thanh niên về vai trò, vị trí của thế hệ trẻ trong phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục, bồi đắp lòng yêu nước, ý chí tự tôn, tự cường dân tộc…

    Trả lờiXóa
  13. Trang bị kiến thức, bản lĩnh chính trị tư tưởng cho sinh viên với Chủ nghĩa Mác Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng, qua đó sinh viên có thế giới quan, phương pháp luận khoa học và nhân sinh quan cách mạng đúng đắn. Khi sinh viên có thế giới quan, nhân sinh quan khoa học, đúng đắn sẽ phát triển tư duy, tầm nhìn khoa học biện chứng, định xét mọi sự vật, hiện tượng một cách khách quan duy vật, từ đó hoàn thiện dần đạo đức, nhân cách chuẩn mực vì mọi người tức là “thành nhân”.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH CÓ GÌ ĐỂ HỌC?

      Ngày nay những gì được gọi là tư tưởng của Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng lý luận, và là chỗ dựa tinh thần cũng như để che đậy sự cai trị độc đoán, chuyên quyền của đảng cộng sản Việt Nam. Gần đây bộ chính trị cộng sản đã ra chỉ thị 06-CT/TW để yêu cầu toàn dân học tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, tiếp theo ngày 16-1-2007 ra quyết định số 35-QĐ/TW thành ban chỉ đạo trung ương cuộc vân động toàn dân học tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh. Vậy Hồ Chí Minh có tư tưởng gì mà những người cộng sản phải tiêu tốn nhiều tiền của của nhân dân để nghiên cứu rồi bắt học sinh, sinh viên, nay là là toàn dân học tập. Sau khi tôi đã đọc quyển giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh do nhà xuất bản chính trị quốc gia phát hành tháng 8 năm 2006 và đọc một số cuốn sách viết về tư tưởng Hồ Chí Minh. Tôi chỉ thấy trong con người của Hồ Chí Minh có hai nhận thức quan trọng nhất và mang tính nền tảng trong cả cuộc đời hoạt động chính trị của ông, nhưng trong suốt 60 năm qua đảng cộng sản Việt Nam đã cố tình quên lãng, không áp dụng trong đường lối của họ. Hai nhận thức quan trọng đó là: Nhận thức về tư tưởng dân chủ, tự do, bình đẳng của Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 của Đại cách mạng Pháp, Nhận thức thứ hai đó là về tư tưởng dân chủ, về giá trị quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Hồ Chí Minh không có những tư tưởng của riêng mình, mà ông chỉ tiếp thu và làm theo tư tưởng của những người đi trước như Mác, Lê Nin, Mao.


      Nhận thức về tư tưởng dân chủ của cách mạng Pháp và cách mạng Mỹ đã được Hồ Chí Minh thể hiện trong Tuyên ngôn Độc lập được đọc tại quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945 khai sinh ra nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Và trong Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam năm 1946.


      Mở đầu Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cộng hoà Pháp năm 1789, điều này cho thấy Hồ Chí Minh mong muốn xác lập vững chắc những nguyên tắc bảo vệ quyền cá nhân con người trước quyền lực, khẳng định các quyền tự nhiên không thể bị tước đoạt của mỗi người. Hồ Chí Minh còn mong muốn xây dựng nhà nước dựa trên nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân và có nghĩa là: “Để đảm bảo cho các quyền này, con người thiết lập ra các chính phủ và chính sức mạnh của các chính phủ này là xuất phát từ sự ưng thuận của nhân dân. Và khi một hình thức chính phủ nào đó trở nên đối nghịch với các mục đích trên thì nhân dân có quyền thay đổi, hay phế bỏ chính phủ đó, và thiết lập nên một chính phủ mới, dựa trên nền tảng những nguyên tắc như vậy và tổ chức các quyền lực của mình theo hình thức nào đó để cho các quyền lực ấy có khả năng đảm bảo an ninh và hạnh phúc cho họ nhiều nhất.”


      Trong Hiến pháp Việt Nam năm 1946, thể hiện rõ tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng xã hội Việt Nam trên nền tảng dân chủ, tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Hiến pháp năm 1946 xây dựng trên ba nguyên tắc:

      “ - Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo.

      - Đảm bảo các quyền tự do dân chủ.

      - Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân và do nhân quyết định”.

      Hiến pháp 1946 khẳng định ngay trong điều đầu tiên là: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo.”

      Điều đó có nghĩa mọi người dân Việt Nam đều có quyền tham gia chính trị thông qua các đảng phái chính trị mà họ là thành viên hoặc với tư cách độc lập. Và việc đảng phái chính trị nào lãnh đạo đất nước phải do toàn dân lựa chọn và quyết định thông qua cuộc bầu cử tự do dân chủ.

      (Xin xem tiếp phần dưới)

      Xóa
    2. Tóm lại trong cả cuộc đời hoạt động chính trị của Hồ Chí Minh, ông ấy đã tiếp thu hai tư tưởng về nhân quyền và dân chủ có giá trị kinh điển từ Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cộng Hoà Pháp năm 1789 để áp dụng vào việc xây dựng đất nước Việt Nam dân chủ với thể chế chính trị đa đảng, tôn trọng phẩm giá của con người tức là tôn trọng những quyền tự nhiên, bất khả xâm phạm và thiêng liêng của mỗi con người. Và xây dựng chính quyền của dân, do dân và vì dân. Đáng tiếc, đảng cộng sản Việt Nam sau khi nắm được quyền lực, họ đã thực hiện nền chuyên chính của mình, thực hiện chế độ độc đảng cầm quyền, hạn chế và tước bỏ đi những quyền căn bản nhất con người như: tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do xuất bản, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài, tự do biểu tình….


      Nay, để duy trì sự lãnh đạo độc đảng của minh, đảng cộng sản Việt Nam kêu gọi, vận động toàn dân học tập đạo đức, tư tưởng Hồ Chí Minh, điều nay không thực tế, bởi chính đảng viên đảng cộng sản phải là những người phải học, và phải thấm nhuần những giá trị về dân chủ và nhân quyền mà Hồ Chí Minh đã tiếp thu và để lại cho họ. Khi mà ngày nay vấn đề nhân quyền đã mang ý nghĩa toàn cầu và tôn trọng nhân quyền đã trở thành hòn đá thử vàng và là biểu tượng của công lý trong công việc đối nội và đối ngoại của mỗi quốc gia. Chỉ khi công lý được thực thi thì đảng cộng sản mới có thể tồn tại được, còn không thì sẽ tự huỷ diệt chính bản thân họ. Hồ Chí Minh đã có một câu nói khá nổi tiếng đó là: “ Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập chẳng có nghĩa gì”(Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Sự thật 1984, Tập 4, tr 35)


      Những tư tưởng Hồ Chí Minh đã tiếp thu mà nay đảng cộng sản Việt Nam phải thực thi ngay đó là: Tôn trọng tuyệt đối tất cả các quyền tự nhiên, thiêng liêng và bất khả xâm phạm của nhân dân Việt Nam. Từ bỏ chế độ độc đảng cộng sản lãnh đạo, chấp nhận xây dựng chế độ dân chủ đa đảng. Cùng với đại diện của các đảng phái, tổ chức chính trị, đại diện các tôn giáo, các tổ chức chính trị xã hội thành Uỷ ban soạn thảo Hiến pháp và tiến hành soạn thảo Hiến pháp mới, luật bầu cử mới, tiến hành trưng cầu dân ý và bầu cử tự do, dân chủ có sự giám sát của cộng đồng quốc tế.

      Nguyễn Văn Đài, luật sư từ Hà Nội

      Xóa
  14. TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH CÓ GÌ ĐỂ HỌC?

    Ngày nay những gì được gọi là tư tưởng của Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng lý luận, và là chỗ dựa tinh thần cũng như để che đậy sự cai trị độc đoán, chuyên quyền của đảng cộng sản Việt Nam. Gần đây bộ chính trị cộng sản đã ra chỉ thị 06-CT/TW để yêu cầu toàn dân học tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, tiếp theo ngày 16-1-2007 ra quyết định số 35-QĐ/TW thành ban chỉ đạo trung ương cuộc vân động toàn dân học tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh. Vậy Hồ Chí Minh có tư tưởng gì mà những người cộng sản phải tiêu tốn nhiều tiền của của nhân dân để nghiên cứu rồi bắt học sinh, sinh viên, nay là là toàn dân học tập. Sau khi tôi đã đọc quyển giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh do nhà xuất bản chính trị quốc gia phát hành tháng 8 năm 2006 và đọc một số cuốn sách viết về tư tưởng Hồ Chí Minh. Tôi chỉ thấy trong con người của Hồ Chí Minh có hai nhận thức quan trọng nhất và mang tính nền tảng trong cả cuộc đời hoạt động chính trị của ông, nhưng trong suốt 60 năm qua đảng cộng sản Việt Nam đã cố tình quên lãng, không áp dụng trong đường lối của họ. Hai nhận thức quan trọng đó là: Nhận thức về tư tưởng dân chủ, tự do, bình đẳng của Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 của Đại cách mạng Pháp, Nhận thức thứ hai đó là về tư tưởng dân chủ, về giá trị quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Hồ Chí Minh không có những tư tưởng của riêng mình, mà ông chỉ tiếp thu và làm theo tư tưởng của những người đi trước như Mác, Lê Nin, Mao.


    Nhận thức về tư tưởng dân chủ của cách mạng Pháp và cách mạng Mỹ đã được Hồ Chí Minh thể hiện trong Tuyên ngôn Độc lập được đọc tại quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945 khai sinh ra nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Và trong Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam năm 1946.


    Mở đầu Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chí Minh đã trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cộng hoà Pháp năm 1789, điều này cho thấy Hồ Chí Minh mong muốn xác lập vững chắc những nguyên tắc bảo vệ quyền cá nhân con người trước quyền lực, khẳng định các quyền tự nhiên không thể bị tước đoạt của mỗi người. Hồ Chí Minh còn mong muốn xây dựng nhà nước dựa trên nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân và có nghĩa là: “Để đảm bảo cho các quyền này, con người thiết lập ra các chính phủ và chính sức mạnh của các chính phủ này là xuất phát từ sự ưng thuận của nhân dân. Và khi một hình thức chính phủ nào đó trở nên đối nghịch với các mục đích trên thì nhân dân có quyền thay đổi, hay phế bỏ chính phủ đó, và thiết lập nên một chính phủ mới, dựa trên nền tảng những nguyên tắc như vậy và tổ chức các quyền lực của mình theo hình thức nào đó để cho các quyền lực ấy có khả năng đảm bảo an ninh và hạnh phúc cho họ nhiều nhất.”


    Trong Hiến pháp Việt Nam năm 1946, thể hiện rõ tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc xây dựng xã hội Việt Nam trên nền tảng dân chủ, tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Hiến pháp năm 1946 xây dựng trên ba nguyên tắc:

    “ - Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo.

    - Đảm bảo các quyền tự do dân chủ.

    - Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân và do nhân quyết định”.

    Hiến pháp 1946 khẳng định ngay trong điều đầu tiên là: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo.”

    Điều đó có nghĩa mọi người dân Việt Nam đều có quyền tham gia chính trị thông qua các đảng phái chính trị mà họ là thành viên hoặc với tư cách độc lập. Và việc đảng phái chính trị nào lãnh đạo đất nước phải do toàn dân lựa chọn và quyết định thông qua cuộc bầu cử tự do dân chủ.

    (Xin xem tiếp phần dưới)

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Tóm lại trong cả cuộc đời hoạt động chính trị của Hồ Chí Minh, ông ấy đã tiếp thu hai tư tưởng về nhân quyền và dân chủ có giá trị kinh điển từ Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cộng Hoà Pháp năm 1789 để áp dụng vào việc xây dựng đất nước Việt Nam dân chủ với thể chế chính trị đa đảng, tôn trọng phẩm giá của con người tức là tôn trọng những quyền tự nhiên, bất khả xâm phạm và thiêng liêng của mỗi con người. Và xây dựng chính quyền của dân, do dân và vì dân. Đáng tiếc, đảng cộng sản Việt Nam sau khi nắm được quyền lực, họ đã thực hiện nền chuyên chính của mình, thực hiện chế độ độc đảng cầm quyền, hạn chế và tước bỏ đi những quyền căn bản nhất con người như: tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do xuất bản, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài, tự do biểu tình….


      Nay, để duy trì sự lãnh đạo độc đảng của minh, đảng cộng sản Việt Nam kêu gọi, vận động toàn dân học tập đạo đức, tư tưởng Hồ Chí Minh, điều nay không thực tế, bởi chính đảng viên đảng cộng sản phải là những người phải học, và phải thấm nhuần những giá trị về dân chủ và nhân quyền mà Hồ Chí Minh đã tiếp thu và để lại cho họ. Khi mà ngày nay vấn đề nhân quyền đã mang ý nghĩa toàn cầu và tôn trọng nhân quyền đã trở thành hòn đá thử vàng và là biểu tượng của công lý trong công việc đối nội và đối ngoại của mỗi quốc gia. Chỉ khi công lý được thực thi thì đảng cộng sản mới có thể tồn tại được, còn không thì sẽ tự huỷ diệt chính bản thân họ. Hồ Chí Minh đã có một câu nói khá nổi tiếng đó là: “ Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập chẳng có nghĩa gì”(Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Sự thật 1984, Tập 4, tr 35)


      Những tư tưởng Hồ Chí Minh đã tiếp thu mà nay đảng cộng sản Việt Nam phải thực thi ngay đó là: Tôn trọng tuyệt đối tất cả các quyền tự nhiên, thiêng liêng và bất khả xâm phạm của nhân dân Việt Nam. Từ bỏ chế độ độc đảng cộng sản lãnh đạo, chấp nhận xây dựng chế độ dân chủ đa đảng. Cùng với đại diện của các đảng phái, tổ chức chính trị, đại diện các tôn giáo, các tổ chức chính trị xã hội thành Uỷ ban soạn thảo Hiến pháp và tiến hành soạn thảo Hiến pháp mới, luật bầu cử mới, tiến hành trưng cầu dân ý và bầu cử tự do, dân chủ có sự giám sát của cộng đồng quốc tế.

      Nguyễn Văn Đài, luật sư từ Hà Nội

      Xóa
  15. Sinh viên hiện nay đang là một lực lượng trí thức đông đảo. Họ là thành phần quan trọng trong thực hiện các chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước, họ có đóng góp lớn cho tương lai của đất nước vì họ là những con người nhiệt tình, yêu nước, có trình độ kiến thức, có tay nghề, vì vậy Đảng, Nhà nước phải hết sức quan tâm chú ý phát triển, giáo dục lực lượng này.

    Trả lờiXóa
  16. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên là một công tác rất quan trọng trong đường lối của Đảng. Tất cả các trường đại học đều được giảng dạy các môn về chính trị cho sinh viên ngay từ năm học đầu tiên. Và thực sự điều này cũng mang lại những thành công nhất định, hầu hết sinh viên đều có nhận thức chính trị và lòng yêu nước nhưng cần phải tăng cường giáo dục hơn nữa vì một số hành động yêu nước vẫn chưa được hành động một cách đúng đắn.

    Trả lờiXóa
  17. Gần đây, sinh viên trên địa bàn thành phố Hà Nội đã thực hiện những vụ biểu tình và bao vây quanh đại sứ quán Trung Quốc để phản đối những hành động của Trung Quốc trên biển Đông đã xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên biển. Tuy đó là hành động thể hiện lòng yêu nước nhưng nó lại làm cho các bọn phản động, rận chủ có cơ hội xuyên tạc, kích động thanh niên làm rối trật tự an ninh trên địa bàn.

    Trả lờiXóa

  18. 1. Giáo dục lập trường vững vàng, kiên định: phải nói rằng đa số sinh viên trường ta trước khi vào trường học tập đã được chọn lọc kỹ về các tiêu chuẩn chính trị. Điểm xuất phát từ truyền thống gia đình là một vấn đề hết sức thuận lợi. Tuy nhiên trước những biến động của tình hình thế giới, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách chia rẽ, lung lay ý chí ở các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ thì việc giáo dục cho các em sinh viên lập trường vững vàng là hết sức cần thiết. Thực tế, các em tuổi đời còn trẻ, kinh nghiệm sống chưa nhiều nên nếu không thường xuyên quan tâm giáo dục, các em sẽ bị vấp ngã.

    2. Giáo dục tình yêu nghề, yêu Đảng, yêu dân: mọi người sinh ra có quyền lựa chọn cho bản thân một nghề thích hợp. Khi đã có sự lựa chọn ngành Công an, các em đã có nhận thức đúng đắn về nghề nghiệp trong tương lai của mình. Tuy nhiên, trong quá trình học tập tại trường, tham khảo ý kiến của người thân và đồng nghiệp; các em đã có sự chuyển biến trong lựa chọn chuyên ngành cho bản thân. Chính vì vậy, bằng kiến thức chuyên môn, bằng giá trị và truyền thống của các chuyên ngành đang đào tạo tại trường; thầy cô giáo cần hướng các em đến sự yên tâm trong việc học tập ở bất kỳ chuyên ngành nào tại trường; không được xem nhẹ một chuyên ngành nào hay có tư tưởng chán nản, trung bình chủ nghĩa khi theo học chuyên ngành mà mình không ưa thích.

    Trả lờiXóa
  19. 3. Giáo dục truyền thống nhà trường, niềm tự hào về mái trường: phải giáo dục cho sinh viên hiểu và nhận thức được rằng truyền thống nhà trường là một chặng đường phấn đấu và trường thành không ngừng. Từ một trường hạ sỹ quan, đến nay trở thành một trường đại học, trung tâm đào tạo sỹ quan Cảnh sát cho các tỉnh thành phía Nam từ Quảng Trị trở vào là một bước tiến vượt bậc của Nhà trường. Các em được học tập tại trường; đã trải qua một kỳ thi cam go, vượt qua cả chục ngàn thí sinh khác, các em có quyền tự hào mình là sinh viên của trường Đại học CSND. Từ niềm tự hào đó, các em cần xác định mình phải làm những gì, học những gì, học như thế nào cho xứng đáng với truyền thống của nhà trường. Niềm tự hào không chỉ biểu hiện ở khẩu hiệu chung chung mà biến thành từng việc làm cụ thể, vào trong từng hành động của bản thân sinh viên.

    4. Giáo dục ý thức chấp hành nội quy, kỷ luật: từ môi trường phổ thông, các em sinh viên chuyển lên một môi trường giáo dục rèn luyện, học tập mới. Những nội quy, kỷ luật của Ngành buộc các em phải hình thành thói quen trong sinh hoạt, rèn luyện. Nếu không tự giác, khép mình trong khuôn khổ kỷ luật của Nhà trường, các em sẽ bị đào thải và đánh mất mình. Do đó, cần thường xuyên rèn luyện cho các em những thói quen nhỏ nhất trong sinh hoạt: thói quen đúng giờ, thói quen ăn uống, nghỉ ngơi, nghiên cứu khoa học và đặc biệt tự học phải trở thành thói quen bản chất trong mỗi sinh viên.

    Trả lờiXóa
  20. Giáo dục chính trị tưởng cho sinh viên là hoạt động có tính chất thường xuyên, lâu dài, được thực hiện từ khi sinh viên mới bước chân vào trường đến khi các em tốt nghiệp. Ngay những ngày đầu nhập học, các tân sinh viên có lớp bồi dưỡng ngắn để hiểu về truyền thống của trường, nội quy, quy chế của trường, lớp. Lớp bồi dưỡng tin học, anh văn, toán…để các em tiếp cận nhanh phương pháp học tập bậc Đại học. Sau đó các em được tham gia các hoạt động giáo dục chính trị tư tưởng với nhiều loại hình khác nhau như: Giáo dục chủ nghĩa Mác Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, sinh hoạt chính trị thường kỳ, các hoạt động văn hóa, thể thao theo chủ đề, tham gia hiến máu nhân đạo, mùa hè xanh, tham gia các hoạt động xã hội từ thiện, các hoạt động cộng đồng….nhằm giúp các em nâng cao kỹ năng sống, giao tiếp, công tác xã hội, từng bước hình thành bộc lộ nhân cách sống tốt đẹp.

    Chi bộ, Ban Giám hiệu quan tâm phối hợp với các cơ quan thông tin: Báo Long An, Đài Phát thanh truyền hình Long An đưa các thông tin hoạt động của trường, hoạt động của sinh viên trên báo đài địa phương; đồng thời trường đặt mua báo Long An dài hạn để cho sinh viên, cán bộ, giảng viên, nhân viên nắm bắt các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các thông tin về thời sự, kinh tế, chính trị diễn ra trong tỉnh; qua báo chí trang bị cho sinh viên kiến thức cơ bản về định hướng phát triển của tỉnh Long An nói riêng, của đất nước nói chung.

    Bên cạnh đó công tác tuyên truyền giáo dục chính trị tư tưởng được Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh của trường thực hiện đa dạng thông qua nhiều hoạt động lý thú, bổ ích như: “Sinh viên 5 tốt”; Hội thi “Chi đoàn giỏi”; “Thách thức tri thức”, Lau Star, các giải thi đấu thể thao, các câu lạc bộ chuyên ngành, câu lạc bộ kỹ năng mềm…Song song đó, mạng thông tin nội bộ: website, hệ thống truyền thanh của trường cũng thường xuyên đưa những thông tin thiết thực đến với toàn thể CBGVSV của trường, góp phần tích cực cho nhiệm vụ đào tạo đội ngũ trí thức trẻ “vừa hồng vừa chuyên” cho tỉnh Long An và cho đất nước.

    Rõ ràng để đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và tỉnh nhà, đòi hỏi phải có nguồn nhân lực với bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ tri thức bậc cao tiệm cận và ngang tầm với nền khoa học công nghệ các nước tiên tiến, với lý tưởng cống hiến vì nước Việt Nam giàu mạnh.

    Trả lờiXóa
  21. Ngày nay, công tác, giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên trong các trường đại học vô cùng là quan trọng và cần thiết bởi vì sinh viên là tầng lớp trẻ của đất nước, kĩ năng sống chưa có nhiều, ít được va vấp với xã hội nên rất khó có cái nhìn đúng đắn về tình hình chính trị, xã hội của quốc gia và thế giới. Đây cũng chính là đối tượng để các thế lực phản động nhắm tới để lôi kéo phản động. Hiện nay công tác này cũng đang được làm một cách hết sức có kết quả khi mà các môn học về chính trị, những buổi sinh hoạt chính trị đầu năm và trong cả quá trình học vẫn được các nhà trường thực hiện đều đặn. đó là một việc đáng ghi nhận

    Trả lờiXóa
  22. Về công tác nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng

    Chất lượng sinh hoạt Đảng đạt được nhiều kết quả tích cực: Nền nếp sinh hoạt được giữ vững, nội dung sinh hoạt vừa phong phú, thiết thực vừa đảm bảo đúng nguyên tắc về tổ chức và sinh hoạt Đảng, bảo đảm tính lãnh đạo, tính giáo dục và tính chiến đấu.

    Qua sinh hoạt, đảng viên kịp thời nắm bắt và tự giác chấp hành nghiêm túc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; ý thức trách nhiệm của đảng viên, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng không ngừng được nâng cao; phương thức lãnh đạo của Đảng ở cơ sở từng bước được đổi mới; coi trọng phát huy vai trò của đảng bộ, chi bộ trong quản lý, giáo dục cán bộ, đảng viên; chú trọng công tác kiểm tra, giám sát tổ chức Đảng và đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Quy định những điều đảng viên không được làm; kịp thời biểu dương, khen thưởng những đảng viên gương mẫu, có thành tích xuất sắc và giúp đỡ, giáo dục, xử lý những đảng viên có thiếu sót, khuyết điểm hoặc vi phạm nguyên tắc sinh hoạt Đảng và tiêu chuẩn đảng viên.

    Trả lờiXóa
  23. Về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng

    Công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong Đảng được thực hiện khá nghiêm túc. Các cấp ủy Đảng chủ động xây dựng, ban hành kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện công tác kiểm tra, giám sát. Trong đó chú trọng kiểm tra các lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm, các vấn đề nhạy cảm, phức tạp. Qua kiểm tra, giám sát, giúp cấp ủy nắm tình hình, phát hiện, ngăn ngừa các biểu hiện tiêu cực, vi phạm, giúp tổ chức Đảng và đảng viên khắc phục khuyết điểm, phát huy ưu điểm, nâng cao trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ được giao.

    Bên cạnh những mặt đạt được, công tác giáo dục chính trị - tư tưởng, đạo đức, lối sống cũng còn một số mặt tồn tại như: Chất lượng triển khai học tập các chỉ thị, nghị quyết của Đảng ở một số đơn vị chưa cao; việc thảo luận nghị quyết và đóng góp chương trình hành động còn chung chung, chưa sát với thực tiễn của cơ quan, đơn vị;

    Việc nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội có lúc còn chậm, thiếu chiều sâu; một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa thật sự tự giác trong việc rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp chưa thật sự rõ nét;

    Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống có lúc còn nặng tính hình thức, chưa đi vào chiều sâu; công tác kiểm tra, giám sát giữ gìn kỷ luật, kỷ cương chưa được tiến hành thường xuyên; vai trò giám sát của nhân dân thông qua các đoàn thể chính trị - xã hội chưa được phát huy đúng mức.

    Tuy còn những mặt tồn tại, hạn chế nhưng nhìn chung, sau 1 năm tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch 33-KH/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường công tác giáo dục chính trị - tư tưởng, đạo đức, lối sống theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI) sau đợt sinh hoạt kiểm điểm, tự phê bình và phê bình đã tạo sự chuyển biến quan trọng trong tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống của đại đa số cán bộ, đảng viên;

    Kịp thời khắc phục những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mỗi đảng viên và tổ chức cơ sở đảng, củng cố niềm tin của đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng;

    Từng bước ngăn chặn và đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác cán bộ và nâng cao tinh thần trách nhiệm, tính tự giác, gương mẫu của người đứng đầu, góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị của mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương.

    Trả lờiXóa
  24. giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên trong các trường đại học vô cùng là quan trọng và cần thiết bởi vì sinh viên là tầng lớp trẻ của đất nước, kĩ năng sống chưa có nhiều, ít được va vấp với xã hội nên rất khó có cái nhìn đúng đắn về tình hình chính trị, xã hội của quốc gia và thế giới. Đây cũng chính là đối tượng để các thế lực phản động nhắm tới để lôi kéo phản động.Công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật trong Đảng được thực hiện khá nghiêm túc. Các cấp ủy Đảng chủ động xây dựng, ban hành kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện công tác kiểm tra, giám sát. Trong đó chú trọng kiểm tra các lĩnh vực trọng tâm, trọng điểm, các vấn đề nhạy cảm, phức tạp. Qua kiểm tra, giám sát, giúp cấp ủy nắm tình hình, phát hiện, ngăn ngừa các biểu hiện tiêu cực, vi phạm, giúp tổ chức Đảng và đảng viên khắc phục khuyết điểm

    Trả lờiXóa

 
Nhân quyền © 2012 | Designed by True Happy
.