on 16:33:00

John Macain-kẻ ghen ăn tức ở (phần 1. Bản chất của John Mcain)

Nhãn: ,




Lạc Hồng
     Nếu ai quan tâm đến tình hình chính trị thì ít nhiều đều biết đến một trong số những thượng nghị sĩ diều hâu của Mỹ đó là John Mcain, theo tôi đánh giá thì đây là được xem như là La Viện của Trung Quốc. Được biết đến là một trong những người thúc đẩy quan hệ với Việt Nam nhưng đi liền với điều đó John Mcain cũng là người có những quan điểm cực đoan chống phá Việt Nam. Các dự luật HR nhằm vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ nhân quyền hay những phát ngôn gây mất uy tín cho Việt Nam đều có sự tham gia tích cực của chính khách này. Đó là những việc bình thường ai cũng thấy John Mcain làm nhưng nay Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ trần, nhân dân Việt Nam ai ai cũng thương tiếc thì John Mcain lại một lần nữa chứng tỏ sự ngỗ ngược và hỗn láo của mình khi đã có những bình luận thiếu đi sự khách quan, với cái nhìn không minh triết về lịch sử được đăng tải trên VOA. Với tựa đề “'Chiến công của Tướng Giáp nhờ chấp nhận thương vong nặng nề”. Sự sai đúng hay thắng thua là do thực tế lịch sử chứng minh cho tất cả nhưng thấy cần thiết phải nói đôi điều về tên thượng nghị sĩ này để người đọc hiểu được bản chất của hắn.
John Mcain bị nhân dân Việt Nam bắt trong chiến tranh Việt Nam
        Thứ nhất, chúng ta hãy cùng tìm hiểu cái thân thế và sự nghiệp của John Macain thế nào mà được xem là một thượng nghị sĩ có ảnh hưởng và thường có một phát ngôn láo xược như vậy.
John Mcain là hậu duệ một gia đình dòng dõi binh nghiệp, cụ thể “Cha và ông nội của McCain đều đô đốc của Hải quân Hoa Kỳ”, ông nội của Mcain là nhà tiên phong trong lĩnh vực hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ. Xét một cách dân dã có thể nói rằng John Mcain là “con ông cháu cha”. Tiếp nối truyền thống gia đình John Mcain cũng theo đuổi cuộc đời binh nghiệp với tư cách từng là học viên học viện hải quân, sau đó là phi công cường kích trực chiến trên chiến hạm USS Interprise tại vùng Địa Trung Hải. Và Mcain đã từng tham chiến tại Việt Nam khi Mỹ xâm lược miền Nam Việt Nam. Trong một lần thực hiện đánh phá miền Bắc John Mcain đã từng bị bắn rơi và bị quân đội nhân dân Việt Nam bắt giữ và sau đó được trao trả cho phía Mỹ vì chính sách nhân đạo của chính quyền Việt Nam dân chủ Cộng hòa.
        John Mcain được coi là một kẻ ngang bướng vô lối, cụ thể:
       “McCain là một học viên nổi loạn và đời binh nghiệp của ông tại Học viện Hải quân rất mâu thuẫn nữa yêu nữa ghét và mù mờ. Ông thường hay cãi nhau với ban giám hiệu và lãnh đạo của trường; mỗi năm ông bị trên 100 lần kỷ luật (vì giày không đánh bóng, đội hình không chỉnh tề, nói chuyện không đúng chỗ và những việc đại khái như vậy. Ông chưa bao giờ nghĩ đến việc bỏ học và vì vậy ông đã hoàn thành thành công việc huấn luyện của mình và tốt nghiệp Học viện Hải quân năm 1958; ông đứng hạng năm từ dưới đếm lên trong lớp của mình, thứ hạng 894 trong số 899 học viên.”
(nguồn:wikipedia)
     Rõ ràng bản chất của John Mcain là một kẻ không chịu đi theo khuôn phép, lề lối và những chuẩn mực đạo của xã hội mà luôn cố gắng phá vỡ mọi thứ. Chính con người ngỗ ngược, ương bướng thời trẻ của hắn đã nuôi dưỡng thành một John Mcain trưởng thành đầy tham vọng và ích kỷ cũng như vô sỉ. Hắn không từ một hành động hay là lợi dụng vị thế của hắn trong Quốc hội Hoa Kỳ để chống Việt Nam. Điều đó tất cả chúng ta đều biết thông qua các phương tiện truyền thông. Mcain được xem như là đầu têu trong các chiến dịch vận động Quốc Hội đưa Việt Nam vào nhóm các nước cần đặc biệt quan tâm về dân chủ nhân quyền…John Mcain chỉ là một kẻ bất tài, cậy quyền, cậy thế để áp đặt các giá trị của hắn lên người khác cũng như để áp đặt cái nhìn tiêu cực và thiếu hiểu biết của hắn về Việt Nam. 
    Trong sự nhìn nhận và đánh giá của John Mcain về chiến công của Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng vậy, đó là một đánh giá thiếu đi sự khách quan và không minh triết. Chỉ là môt tuyên bố cá nhân mang tính áp đặt và nhìn nhận quá phiến diện không hiểu rõ cả về chiến lược quân sự và cả hoàn cảnh thực tế của chiến tranh Việt Nam. Trong đánh giá của John Mcain cho rằng những chiến công của Đại tướng chỉ là do chấp nhận “thương vong nặng nề” xét cho cùng cũng chỉ là xuất phát từ bản chất nóng nảy khi đánh giá một vấn đề của hắn mà thôi. Bởi thương vong trong chiến tranh có liên quan tới nhiều thứ, nhưng xét trong hoàn cảnh chiến tranh của Mỹ và Việt Nam nếu thiếu đi sự sáng suốt trong lãnh đạo thì cho dù có nướng hết lính thì cũng khó để chống lại đuợc với lực lượng quân sự hùng hậu của Hoa Kỳ.


John Macin-thượng nghị sĩ diều hâu hiện nay

    Thứ hai, theo tôi nghĩ thì John Mcain đang mang nặng “hội chứng chiến tranh Việt Nam”. Xét trên bình diện là kẻ thua cuộc, và chính John Mcain đã từng là một trong những phi công bị bắt khi đánh phá miền Bắc Việt Nam nên những tư tưởng mà John Mcain suy nghĩ về Việt Nam còn mang sự thù địch, và ôm hận. Đối với những con người chân chính biết đúng sai phải trái thì sẽ khác, còn đối với những kẻ cố chấp và ương bướng như John Mcain thì lại khác. Trong tận sâu con người của một chiến binh bại trận này vẫn ít nhiều có những suy nghĩ tiêu cực và có cơ hội là sẽ bột phát thành hành động chống Việt Nam. Những hành động bình thường của John Mcain rất đáng bị lên án, nhưng hành động có phần bôi nhọ và phủ đinh chiến công của Đại tướng Võ Nguyên Giáp của John Mcain trên VOA thực sự là một hành động bỉ ổi, đáng khinh bỉ. 
     Nếu nói theo văn hóa lề đường góc chợ hiện nay thì John Mcain đang có thái độ ghen ăn tức ở đối với những chiến công của tướng Giáp. Một kẻ bại trận, nhờ những điều kiện sẵn có của gia đình để rồi leo lên được chính trường Mỹ sẽ mãi chẳng bao giờ có tư cách để so sánh với một thiên tài quân sự như Đại tướng Võ Nguyên Giáp cả. Vậy nên hắn ghen ăn tức ở là điều hiển nhiên.
    Vậy nên những lời nói mang tính vừa khen vừa chê của John Mcain trên BBC thực chất là một chuỗi hành động thể hiện rõ nhất cho sự ghen ăn tức ở của hắn đối với Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Chính điều này đã làm lộ bộ mặt thật của hắn.

56 nhận xét:

  1. NHỮNG SỰ THẬT CẦN PHẢI BIẾT - (Phần 25) - LÊ ĐỨC ANH - KẺ BÁN NƯỚC

    Lê Đức Anh là một tên cai phu cao su có nhiều tội ác với những người dân lành. Đây là kẻ đã từng tiếp tay cho thực dân Pháp đánh đập nhân dân ta. Đó là tội ác không thể dung tha. Đặc biệt, Lê Đức Anh có vai trò rất quan trọng trong việc bán nước của đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó chúng ta cần phải thấy rõ được bộ mặt thật của Lê Đức Anh để nhân dân một ngày gần đây xét xử trước công luận về tội ác này. Đó chính là lẽ phải và chính nghĩa mà chúng ta phải đấu tranh vì một dân tộc Việt Nam trường tồn mãi mãi...

    I. Ác ôn giả danh dân lành:

    1. Lý lịch hiện nay:

    Theo tài liệu được cung cấp trên trang chính của báo điện tử cộng sản thì Lý lịch của Lê Đức Anh như sau:

    “Họ và tên: Lê Đức Anh
    Bí danh: Sáu Nam
    Ngày sinh: 1920
    Quê quán: xã Bàn Môn, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế
    Ngày tham gia cách mạng: 1937
    Ngày vào Đảng: 30-5-1938
    Trình độ học vấn: Văn hóa lớp 7/10, Lý luận chính trị: Trường Đảng Việt Bắc, Học viện Quân sự cao cấp Liên Xô.

    TÓM TẮT QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC

    Từ 1937 đến 1945: Tham gia phong trào dân chủ ở Phú Vang, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 5/1938, Chỉ huy quân đội vũ trang ở Thủ Dầu Một; Trung đội trưởng, Chính trị viên đại đội, Chính trị viên tiểu đoàn, Trung đoàn ủy viên, Tỉnh ủy viên Thủ Dầu Một, Ủy viên Ban Chấp hành cao su Nam Bộ.

    Từ 10/1948 đến 1950: Được cử giữ các chức vụ: Tham mưu trưởng Khu 7, Khu 8; Khu Sài Gòn-Chợ Lớn, Quân khu ủy viên.

    Từ 1/1951 đến 1975: Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Nam Bộ, Cục phó Cục Tác chiến, Cục phó thứ nhất Cục Quân lực, Cục trưởng Cục Quân lực, Phó Tổng tham mưu trưởng, Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Miền, Tư lệnh Quân khu 9, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Miền, Trung tướng (1974).

    Từ 1975 đến 1976: Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, Tư lệnh cánh quân Tây Nam, Tư lệnh Quân khu 9, Bí thư Quân khu ủy, Đại biểu Quốc hội khóa VI.

    Từ 12/1976: Tại Đại hội IV được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tư lệnh kiêm chính ủy Quân khu 7 (1978), Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thượng tướng (1980).

    Từ 6/1981: Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia. Tại Đại hội V (3/1982) của Đảng được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu vào Bộ Chính trị, Đại tướng (1984). Từ tháng 2/1987 tháng 9/1992: Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, tại Đại hội VI (12/1986) và Đại hội VII (6/1991) được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu vào Bộ Chính trị. Đại biểu Quốc hội khóa VIII.

    Từ 1992: Được Quốc hội khóa IX bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tại Đại hội VIII (6/1996), được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu vào Bộ Chính trị, giữ chức Chủ tịch nước.

    Từ 12/1997: Được Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) cử làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.”.

    Theo tài liệu dạy lịch sử tóm tắt của cộng sản Việt Nam thì tiểu sử tóm tắt của Lê Đức Anh như sau: “Lê Đức Anh (sinh 1920), nhà hoạt động quân sự, chính trị Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam; đại tướng. Quê làng Bàn Môn, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Tham gia cách mạng từ 1937. Đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương. Tổ chức và phụ trách các nghiệp đoàn cao su ở Lộc Ninh, các đồn điền Quản Lợi, Xa Cam, Xa Cát, Xa Trạch (1944).

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 2)

    Trả lờiXóa
  2. (Lê Đức Anh-phần 2)

    Gia nhập lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam (8.1945). Thời kì 1945 - 54, đã kinh qua các chức vụ từ cấp trung đội, đại đội, tiểu đoàn, chi đội, trung đoàn, tham mưu trưởng Khu VII, Khu VIII, Khu Sài Gòn - Chợ Lớn, tham mưu phó rồi quyền tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Cục phó Cục Tác chiến, cục trưởng Cục Quân lực Bộ Tổng tham mưu, phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Quân giải phóng Miền Nam (1964 - 68). Tham gia chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Jansơn Xiti (Junction City)) của Mĩ vào căn cứ của Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền ở Tây Ninh (1967); đánh vào khu vực Chợ Lớn trong cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968. Tư lệnh Quân khu IX (1969 - 74). Phó tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh, kiêm tư lệnh cánh quân Tây Nam đánh vào Sài Gòn (1975). Từ 5.1976 đến 1978, tư lệnh Quân khu IX, tư lệnh kiêm chính ủy Quân khu VII. Thành viên của Ban Lãnh đạo chuyên gia và Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia (2. 1979). Tháng 12.1986 - 87, tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm phó bí thư Quân ủy Trung ương. Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992 - 97). Ủy viên Bộ Chính trị (khóa V - VIII); Bí thư Trung ương Đảng khóa VII, ủy viên thường vụ Bộ Chính trị (6.1996 - 12.1997). Đại biểu Quốc hội các khóa VI, VIII, IX. Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (12.1997 - 4.2001). Huân chương Sao vàng, huân chương Quân công hạng nhất, huân chương Chiến thắng hạng nhất và nhiều huân, huy chương khác.” (1)

    Ngoài ra trên wiki tiếng Việt (có sự chấp thuận của cộng sản) thì lý lịch của Lê Đức Anh cũng không có gì khác so với bản lý lịch nêu trên. Nó chỉ có thêm 2 chi tiết chính đó là Lê Đức Anh có bí danh Sáu Nam và nhắc tới con trai là Lê Mạnh Hà, Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Con trai là Lê Sỹ Hiệp, Vụ trưởng, Thư ký Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. (2)

    Qua 3 tài liệu của cộng sản ta có thể thấy lý lịch của Lê Đức Anh khá sạch. Nhưng sự thật có phải như thế không? Chúng ta sẽ được thấy ngay sau đây.

    2. Lý lịch bất minh:
    Lý lịch của Lê Đức Anh đã được chính các cán bộ cộng sản đề nghị xem xét vì có nhiều bất minh. Hãy theo dõi những tài liệu dưới đây để thấy điều này.

    Thứ nhất, về các bản khai lý lịch của Lê Đức Anh đã cho thấy sự mâu thuẫn. Sau đây là lược trích dẫn nội dung thư của 3 tướng cộng sản Phùng Thế Tài, Lê Tự Đồng và Nguyễn Quyết như sau:

    Một tài liệu tháng 11-1976, khi Lê Đức Anh tham gia Đại hội 4 và được đề cử vào Ban chấp hành Trung ương. Lúc đó Lê Đức Anh là Tư lệnh Quân khu 9. Tài liệu này ghi:

    “- Thành phần gia đình: Trung nông; Bản thân: Viên chức
    - Tham gia cách mạng: 1937
    - Vào Đảng: 7 - 1945
    - Chính thức: 8 - 1945

    Bản thân học đến năm 1937, ra dạy tư ở Phú Vang, được kết nạp Đảng vào năm 1938, nhưng chưa sinh hoạt chi bộ. Giữa năm 1939, người anh rể (Hồ Văn Nguyên) bị bắt nên mất liên lạc. Cuối năm 1939 vào Hội An, năm 1940 vào Đà Lạt - Lộc Ninh. Tháng 11 năm 1944 tiếp mối liên lạc hoạt động trong công nhân cao su. Tháng 7-1945 được giao nhiệm vụ chuẩn bị khởi nghĩa. Lấy đó làm ngày kết nạp và lấy ngày 30-8-1945 là ngày làm Tỉnh ủy viên Thủ Dầu Một làm ngày chính thức”.

    Một tài liệu nữa làm tháng 8 - 1986 trước Đại hội 6. Lúc đó Lê Đức Anh là Trưởng ban lãnh đạo Đoàn chuyên gia giúp Campuchia, Ủy viên Bộ Chính trị. Trước đó Lê Đức Anh là Tư lệnh Quân khu 7. Tài liệu này ghi như sau:

    “- Thành phần gia đình: Trung nông
    - Bản thân: Công nhân
    - Ngày và nơi tham gia cách mạng: 1937
    - Ngày nhập ngũ: Tháng 8 - 1945
    - Ngày vào Đảng: 30 - 5 - 1938
    - Ngày chính thức: 05 - 10 - 1938

    1937: Tham gia phong trào Bình Dân ở Phú Vang, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 5 năm 1938. Giữa năm 1939, địch khủng bố mất liên lạc, vào Hội An, Đà Lạt, Thủ Dầu Một làm ăn. 4-1944: Được giao các nghiệp đoàn cao su ở Lộc Ninh, Quảng Lợi. 8-1945: Chỉ huy quân đội vũ trang Thủ Dầu Một, làm trung đội trưởng, chính trị viên đại đội, chính trị tiểu đoàn, chính trị viên chi đội 1, sau là trung đoàn 301, trung đoàn ủy viên, Tỉnh ủy viên Thủ Dầu Một”.

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 3)

    Trả lờiXóa
  3. (Lê Đức Anh-phần 3)

    Rõ ràng 2 bản lý lịch khai ngày vào đảng khác nhau và từ đó có 1 số vấn đề xảy ra khiến các quan chức cộng sản kỳ cựu đặt vấn đề. Phải nói rằng, trong công tác Đảng viên của cộng sản thì vấn đề Đảng tịch bất cứ thời kỳ nào cũng là vấn đề quan trọng hàng đầu. Điều lệ Đảng quy định: “Đảng viên chỉ được tính tuổi Đảng từ khi được kết nạp Đảng chính thức. Có nghĩa rằng chỉ có thể chính thức được công nhận là Đảng viên từ ngày được chi bộ chính thức kết nạp”.

    Trong bản tóm tắt lý lịch lần thứ nhất (tháng 11 - 1976) của Lê Đức Anh có ghi rõ: chưa sinh hoạt chi bộ. năm 1939 thì mất liên lạc. Cho dù được kết nạp dự bị năm 1938 thì cũng không thể kết nạp chính thức, vì chưa sinh hoạt chi bộ. Bản tóm tắt lý lịch này còn ghi là: “Tháng 11 - 1944 tiếp mối liên lạc hoạt động trong công nhân cao su”. Vậy, tiếp nối liên lạc hoạt động gì? Hoạt động Đảng là hoạt động với tư cách đảng viên chính thức hay đảng viên dự bị? Giả định đã tiếp mối liên lạc về Đảng thì sau đó hoặc là được kết nạp dự bị lại, hoặc là sau một thời gian thử thách được chính thức kết nạp vào Đảng. Trong tóm tắt lý lịch tháng 11-1976 không nói điều này. Xin lưu ý là từ tháng 4 - 1944 đến tháng 7 - 1945 là 1 năm 3 tháng. Lúc đó đang là cao trào cách mạng tiền khởi nghĩa, có vùng Đảng đã hoạt động bán công khai. Bản tóm tắt lý lịch tháng 11 - 1976 còn ghi là: “Tháng 7-1945 được giao nhiệm vụ chuẩn bị khởi nghĩa. Lấy đó làm ngày kết nạp và lấy ngày 30-8-1945 là ngày làm Tỉnh ủy viên Thủ Dầu Một làm ngày chính thức”. Việc dùng từ “lấy đó” chính là việc mập mờ kết nạp và chưa kết nạp đảng của Lê Đức Anh.

    Bản tóm tắt lý lịch tháng 11-1976 ghi: Thành phần là “viên chức”. Viên chức là thuộc thành phần tiểu tư sản. Được kết nạp năm 1938, nhưng không có ngày. Điều lệ Đảng cộng sản trước đây quy định: “Thời gian dự bị của những người được kết nạp Đảng thành phần tiểu tư sản là 6 tháng. Còn xuất thân thành phần công nhân thời gian dự bị là 3 tháng”. Cho nên khi khai ngày kết nạp (dự bị) là 30 - 5 - 1938 và ngày chính thức là 05-10-1938 (cách nhau 4 tháng 6 ngày thì tất nhiên kèm theo đó phải khai tụt xuống là xuất thân công nhân). Vì nếu xuất thân viên chức thì thời gian dự bị phải là 6 tháng. Rõ ràng là Lê Đức Anh khai man lý lịch. Bản tóm tắt lý lịch tháng 11 - 1976 ghi: “Tham gia Mặt trận Bình Dân, bị địch khủng bố mất liên lạc vào Nam Bộ làm ăn. Tháng 4-1944, tiếp tục hoạt động”. Như vậy là chỉ nói tham gia Mặt trận Bình Dân, không nói rõ tham gia Đảng. Chỉ nói “mất liên lạc vào Nam Bộ làm ăn. Tháng 4-1944 tiếp tục hoạt động”. Như vậy là từ năm 1939 đến tháng 4 năm 1944 làm ăn, không hoạt động gì, thời gian đó là hơn 5 năm. 5 năm không phải là thời gian ngắn.

    Bản tóm tắt lý lịch tháng 11-1976 như vậy, thế thì làm sao lại có thể sinh ra trong bản tóm tắt lý lịch lần 2: “ngày vào Đảng là ngày 30-5-1938, ngày chính thức là ngày 05- 10 - 1938?” Vì sao đến năm 1986 lại nhớ cụ thể ngày tháng kết nạp chính thức đến như vậy? Nếu được kết nạp chính thức rồi mà trong suốt 5 năm ấy, sao không tìm cách bắt liên lạc với Đảng? Khi vào Hội An, phong trào cách mạng ở Hội An, Duy Xuyên, Quảng Nam rất mạnh. Tổ chức Đảng và các tổ chức công khai như các hội ái hữu, các nghiệp đoàn đều hoạt động mạnh, ngay trong Sở đạc điền mà Lê Đức Anh làm thư ký cũng có tổ chức quần chúng của Đảng. Rõ ràng có sự man trá trong lý lịch của Anh.

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 4)

    Trả lờiXóa
  4. (Lê Đức Anh-phần 4)

    Xem nguyên văn bức thư tại: (3)

    Thứ hai, ông Năm Thi là một cộng sản kỳ cự trong bức thư gửi Lê Đức Thọ yêu cầu xác minh lý lịch và các vấn đề về Lê Đức Anh viết ngày 2 - 8 - 1986 có nói: “Đầu năm 1945, tôi (Năm Thi là Ủy viên Ban cán sự Thủ Dầu Một) được phân công đến Lộc Ninh để kiểm điểm khả năng tổ chức lực lượng Mặt trận Việt Minh... Tháng 2-1945 một tổ chức Mặt trận Việt Minh trong công nhân cao su... Ngày vào Đảng năm 1945 (của đồng chí Lê Đức Anh) do Đảng bộ Thủ Dầu Một có thể là đúng. Còn trước năm 1945, tôi (Năm Thi) chưa thấy rõ vì không có sự giới thiệu nào là một đồng chí đảng viên nằm vùng... Nhiều đồng chí chí cho rằng: đồng chí Lê Đức Anh chưa được kết nạp hoặc chưa được kết nạp chính thức. cho nên mới dùng cái từ “lấy đó làm ngày kết nạp, lấy đó làm ngày chính thức”. Vì vậy, yêu cầu thẩm tra đảng tịch đồng chí Lê Đức Anh của nhiều đồng chí lão thành cách mạng là có lý do xác đáng. Nhiều đồng chí cán bộ, đảng viên nghi vấn đồng chí Lê Đức Anh chưa được kết nạp vào Đảng là có lý do... cần phải Điều tra lý lịch ngày vào Đảng có phải là 44 hay 39?...”

    Như vậy rõ ràng Lê Đức Anh tự khai vào Đảng ngày 30 tháng 5 năm 1938 và chính thức ngày 05 tháng 10 năm 1938 là khai man.

    Thứ ba, một bức thư khác của 3 ông tướng cộng sản Phùng Thế Tài, Lê Tự Đồng và Hoàng Minh Thảo đề ngày 2/4/2001 cũng đã cho thấy Lê Đức Anh là một nhân vật bất minh ngay cả với cộng sản:“Ngoài những điểm trên, chúng tôi xin hỏi Ủy ban kiểm tra Trung ương có nghe đồn về việc Lê Đức Anh đã khai man lý lịch để nhận Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng và đã có thời kỳ làm cai phu Đồn điền. Nghe đâu đã có một đồng chí đã tố giác việc này. Thực hư ra sao chúng tôi không rõ, nhưng đây là vấn đề bảo vệ trong sạch của Đảng và cũng là sinh mệnh chính trị của đảng viên, rất mong Ủy ban kiểm tra Trung ương có xác minh, kết luận rõ ràng.”.

    3. Lê Đức Anh thực chất là ai?

    Lê Đức Anh học tiểu học ở Huế, năm 11 tuổi ra Vinh học tiếp nhưng chỉ được một vài năm. Huy Đức viết: “Học vấn của ông Lê Đức Anh ở mức đọc thông viết thạo” (QB, tr. 103). Và con ngươi thật của Lê Đức Anh ra sao? Hãy đọc những tài liệu sau đây:

    Thứ nhất, hãy đọc thêm một bức thư nữa của một số vị cộng sản kỳ cựu để thấy lý lịch của Lê Đức Anh thế nào và Lê Đức Anh là ai.

    “Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 02 năm 2005

    Kính gởi:
    - Bộ chính trị
    - Ủy ban kiểm tra trung ương đảng
    - Ban chấp hành trung ương đảng khóa 9

    Đồng kính gởi:
    - Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh
    - Đại tướng Võ Nguyên Giáp
    - Đ/c Lê Khả Phiêu, nguyên tổng bí thơ
    - Đ/c Nguyễn Đức Tâm, nguyên ủy viên bộ chính trị, trưởng ban tổ chức trung ương

    Chúng tôi gồm:

    1. Phạm Văn Xô (Hai Xô) sinh năm 1910, vào đảng năm 1930, nguyên ủy viên thường vụ Xứ ủy Nam Bộ thời kháng chiến chống Pháp; ủy viên thường vụ Trung ương Cục miền Nam - trưởng ban kiểm tra trung ương Cục thời chống Mỹ, nguyên ủy viên ban chấp hành trung ương đảng; ủy viên ban kiểm tra trung ương khóa 3, nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh.

    2. Đồng Văn Cống (Bảy Cống), trung tướng, sinh năm 1918, nguyên trung đoàn trưởng trung đoàn 99 Nam Bộ thời kháng chiến chống Pháp; tư lệnh quân khu 9, phó tư lệnh quân giải phóng miền Nam, ủy viên quân ủy Miền thời kháng chiến chống Mỹ; tư lệnh quân khu 7, phó tổng thanh tra quân đội sau ngày đất nước thống nhất, nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh.

    3. Nguyễn Văn Thi (Năm Thi) sinh năm 1920, nguyên ủy viên ban cán sự đảng, ủy viên tỉnh ủy, ủy viên thường vụ tỉnh ủy Thủ Dầu Một (nay là tỉnh Bình Dương) từ năm 1942 đến năm 1946, chi đội trưởng chi đội I, liên trung đoàn trưởng 301-310, tư lệnh đặc khu Sài Gòn-Chợ Lớn (1950), bí thư đảng bộ nhà tù Côn Đảo (1953) thời kháng chiến chống Pháp; chủ nhiệm hậu cần bộ chỉ huy Miền thời chống Mỹ, nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh.

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 5)

    Trả lờiXóa
  5. (Lê Đức Anh-phần 5)

    Có thư báo cáo và kiến nghị lên các cơ quan lãnh đạo cao nhất của đảng mấy điểm sau đây:

    Thời gian qua, nhiều cán bộ lão thành cách mạng và cựu chiến binh cao tuổi ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Nam Bộ đến gặp chúng tôi hỏi tình hình nội bộ đảng. Họ đưa chúng tôi xem nhiều tài liệu mà con cháu họ truy cập được từ Internet. Trong các tài liệu đó, có thư của nhiều tướng lĩnh và lão thành cách mạng gửi bộ chính trị và trung ương khóa 9, đặc biệt là thư ngày 3-1-2004 của đại tướng Võ Nguyên Giáp; các thư của thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, nguyên phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, nguyên ủy viên trung ương đảng các khóa 5, 6, 7; của đồng chí Nguyễn Trọng Vĩnh, 65 tuổi đảng, nguyên cục trưởng cục tổ chức Tổng cục chính trị Quân Đội Nhân Dân Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp, ủy viên trung ương đảng khóa 3; của đồng chí Nguyễn Tài, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên thứ trưởng bộ công an, phó chủ nhiệm ủy ban pháp luật của quốc hội khóa 8.

    Các bức thơ tâm huyết đó đều kiến nghị bộ chính trị phải sớm đưa ra hội nghị trung ương đảng xem xét và xử lý một loạt các vụ việc nghiêm trọng liên tiếp xảy ra trong đảng hàng chục năm qua, trong đó có vụ T4, từng được bộ chính trị khóa 8 bàn giao lại cho bộ chính trị khóa 9 và được coi là "một vụ án chính trị siêu nghiêm trọng" nhưng đến nay vẫn chưa vạch mặt những kẻ cầm đầu để xử lý một cách triệt để.

    Những vụ việc trên, chúng tôi ít nhiều đều có nghe, có biết. Qua các thư trên, chúng tôi càng hiểu rõ hơn. Nhưng do phải chờ kết luận của trung ương, chúng tôi không thể giải thích cho những người đến hỏi.
    Nay xin báo cáo và cung cấp một số tư liệu để trung ương có thêm căn cứ xem xét nguồn gốc các vụ việc nói trên.

    Theo chúng tôi thì những vụ việc nghiêm trọng xảy ra trong hơn hai chục năm qua, từ vụ Xiêm Riệp (1983), Sáu Sứ (1991), vụ nâng Cục 2 lên thành Tổng Cục 2 với quyền hạn siêu đảng, siêu nhà nước, được hợp pháp hóa bằng pháp lệnh tình báo của quốc hội và nghị định 96/CP của chính phủ, vụ T4 (1997-1999), đến vụ nói xấu, vu khống nhằm lật đổ tổng bí thư Lê Khả Phiêu trước đại hội 9, v.v., đều có bàn tay của nhân vật từng hoạt động cách mạng và kháng chiến ở Nam Bộ mà chúng tôi đều biết rõ. Đó là nguyên cai đồn điền cao su, nguyên chủ tịch nước, nguyên cố vấn Lê Đức Anh.

    Vì sự trong sạch và vững mạnh của đảng, với ý thức trách nhiệm của những người cộng sản từng gắn bó với đảng và hoạt động ở Nam Bộ hơn sáu bảy chục năm qua, chúng tôi xin báo cáo với đảng một số hiểu biết về Lê Đức Anh như sau:

    1. Lê Đức Anh không phải là công nhân cao su như tự khai trong lý lịch mà là người phụ trách việc chế biến thực phẩm cho chủ đồn điền và các quan chức Pháp ở Lộc Ninh (chef des cooperatives) từ đầu thập kỷ 40 của thế kỷ 20, được anh chị em công nhân cao su đặt cho biệt danh là "cai lé", do chột mắt vì bệnh đậu mùa. Lê Đức Anh là người giúp việc thân cận của chủ đồn điền De Lalant (Delalande?), một sĩ quan phòng nhì của Pháp. Lương của y cao như lương của chef de camp.

    Năm 1955, sau khi bộ đội Nam Bộ tập kết ra miền Bắc, đồng chí Trần Văn Trà là tư lệnh kiêm chính ủy, đồng chí Nguyễn Văn Vịnh là phó chính ủy, đồng chí Đồng Văn Cống làm tham mưu trưởng, Lê Đức Anh làm tham mưu phó. Thấy Lê Đức Anh không được vào đảng ủy, đ/c Đồng Văn Cống hỏi thì đ/c Vịnh trả lời: "Qua lớp chỉnh đảng ở Việt Bắc, lý lịch của Lê Đức Anh không rõ, nên không giới thiệu".

    Trong một lần tâm sự với Lê Đức Anh, đ/c Đồng Văn Cống hỏi: "Nghe người ta nói cậu là surveillant?". Lê Đức Anh không trả lời. Đ/c Đồng Văn Cống hỏi tiếp: "Hay cậu là 2è bureau (phòng nhì)?". Lúc ấy Lê Đức Anh mới trả lời: "Tôi làm công chức cho đồn điền".

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 6)

    Trả lờiXóa
  6. (Lê Đức Anh-phần 6)

    Đến Đại hội đảng lần 4 năm 1976, đ/c Đồng Văn Cống, Lê Đức Anh và Nguyễn Chánh Nam Bộ cùng dự đại hội, sinh hoạt trong đoàn quân sự. Khi xem danh sách giới thiệu vào trung ương khóa 4, thấy ghi Lê Đức Anh là công nhân cao su, đ/c Đồng Văn Cống hỏi: "Sao cậu khai là công nhân?". Lê Đức Anh ấp úng trả lời: "Họ ghi sai, tôi là công chức!".

    2. Lê Đức Anh không phải là đảng viên từ năm 1938 mà từ tháng 4 năm 1945, khi ban cán sự đảng Thủ Dầu Một tuyên bố tổ chức y vào đảng và giao nhiệm vụ cho y về gây dựng cơ sở cách mạng ở đồn điền cao su Lộc Ninh trong một cuộc họp có 8 người, trong đó có đồng chí Năm Thi tham dự, vì thấy y tỏ ra hăng hái trong phong trào công nhân cao su ở Lộc Ninh sau ngày Nhật đảo chánh Pháp. Cuộc họp đó do bí thơ Văn Công Khai chủ trì bàn việc phối hợp với phe đồng minh chống phát xít Nhật theo chủ trương chung của mặt trận Việt Minh.

    Do man khai đảng viên từ năm 1938, nên năm 1998, Lê Đức Anh được tặng huy hiệu 60 năm tuổi đảng, được báo chí, truyền hình rầm rộ đưa tin trên cả nước!
    Đầu năm 2002, để tiếp tục "hợp thức hóa" đảng tịch của mình, Lê Đức Anh cho công chiếu trên đài truyền hình trung ương bộ phim tài liệu nhan đề "Đồng chí Lê Đức Anh" vào tối mùng 4 Tết. Không tìm được "nhân chứng lịch sử" nào sáng giá hơn, người ta cho xuất hiện một ông anh trong gia đình để xác nhận "Lê Đức Anh từng đậu Đíp-lôm (bằng Thành Chung) và vào đảng năm 1938!".

    3. Lê Đức Anh đã hai lần để sổng toàn quyền Decoux, thống đốc Nam Kỳ Hoffen và chủ đồn điền De Lalant, sĩ quan phòng nhì của Pháp.

    Trong cuộc đảo chánh Nhật-Pháp ngày 9-3-1945, quân Nhật bắt được toàn quyền Pháp ở Đông Dương Decoux và thống đốc Nam Kỳ Hoffen tại Sài Gòn, sau đó giải về giam ở nhà De Lalant, chủ đồn điền cao su ở Lộc Ninh. Đ/c Năm Thi được giao nhiệm vụ dẫn một đội vũ trang lên Lộc Ninh tìm cách bắt sống hoặc tiêu diệt tiểu đội bảo vệ của Nhật, rồi tổ chức dẫn độ Decoux và đồng bọn lên Buôn Mê Thuột để đưa ra Bắc chuyển giao cho trung ương. Đ/c Năm Thi đã bàn bạc với Lê Đức Anh và nhất trí lên kế hoạch phối hợp hành động. Nhưng đêm hôm sau, y bất ngờ hủy bỏ kế hoạch, viện cớ sẽ bị quân Nhật kéo lên khủng bố, phá vỡ cơ sở cách mạng của y!

    Tháng 9-1945, khi chỉ huy quân Anh vào Nam vĩ tuyến 16 tiếp nhận sự đầu hàng của quân Nhật, tướng Gracey đòi Nhật trao Decoux và đồng bọn cho quân đội Anh. Để ngăn cản việc đó, tỉnh ủy Thủ Dầu Một chủ trương cắt đường giao thông từ Lộc Ninh về Sài Gòn, bằng cách đốn cây cản đường từ Lộc Ninh về Hớn Quản rồi phục kích tiêu diệt lực lượng áp giải để bắt bọn Decoux, đơn vị của Lê Đức Anh đã được bổ sung thêm vũ khí để thực hiện nhiệm vụ này. Y nhận lệnh nhưng đã tránh né, cử người khác làm thay. Tên này đã lệnh cho tự vệ dỡ cây và mở đường cho bọn Nhật đưa Decoux, Hoffen và De Lalant về Sài Gòn an toàn!

    4. Trong thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ, Lê Đức Anh đã bỏ chạy, không tổ chức cho lực lượng võ trang đánh trả quân Pháp tập kích vào Thuận Lợi, phá hủy một khối lượng lớn cơ sở vật chất dự trữ của miền Đông.

    Để chuẩn bị cơ sở vật chất cho cuộc kháng chiến, ta chủ trương di chuyển máy móc thiết bị, vật tư, lương thực của các đồn điền cao su và các địa phương miền Đông Nam Bộ về khu vực Thuận Lợi (Phú Riềng cũ) thuộc công ty cao su Dầu Tiếng là địa bàn ở sâu trong hậu phương ta. Trong khi quân Pháp tập kích Thuận Lợi, Lê Đức Anh và lực lượng võ trang thuộc quyền của y đang đóng trên đất Thuận Lợi nhưng đã không tổ chức chiến đấu đánh trả quân địch mà bỏ chạy dài về Cổng Xanh, chiến khu Đ. Do đó, Thuận Lợi bị quân Pháp đốt cháy toàn bộ kho tàng, nhà cửa trong ba ngày đêm liền. Nghe tin tư lệnh Nguyễn Bình sẽ xử tử mình vì tội đó, Lê Đức Anh bèn lánh mặt, đưa quân về vùng Bắc Bến Cát. (Lúc ấy, đ/c Năm Thi là ủy viên thường vụ tỉnh ủy, chi đội phó, kiêm tham mưu trưởng chi đội I Thủ Dầu Một nên biết rõ việc này).

    5. Từ năm 1979 đến 1989, lãnh đạo và chỉ huy quân tình nguyện Việt Nam chiến đấu và giúp bạn ở Campuchia, Lê Đức Anh đã phạm nhiều sai lầm về chính trị và quân sự.

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 7)

    Trả lờiXóa
  7. (Lê Đức Anh-phần 7)

    - Về chính trị: ngoài vụ Xiêm Riệp bắt nguồn từ chủ trương "đánh địch ngầm" do Lê Đức Thọ và Lê Đức Anh đề ra, Lê Đức Anh đã có nhiều biểu hiện và hành vi coi thường bạn, cho kiểm tra nhà ở của một số ủy viên bộ chính trị đảng nhân dân cách mạng Campuchia, bao biện làm thay, can thiệp vào công việc nội bộ, bắt bớ đảng viên của bạn khiến bạn phản ứng và nghi ngờ tình cảm quốc tế trong sáng của đảng, nhà nước và quân đội ta.

    - Về quân sự: đã đánh giá quá thấp kẻ địch, chủ trương "trong năm 1980, quét sạch quân địch ngoài địa hình mà trọng điểm là vùng rừng Ô-Ran, đồng thời hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ phá tan âm mưu địch dùng phần tử hai mặt lũng đoạn đảng và chính quyền của bạn". Đã chỉ đạo chiến tranh theo kiểu ăn đong, năm này chưa xong thì năm sau, kéo dài đến mười năm vẫn chưa diệt được đối thủ mà Lê Đức Anh gọi là "tàn quân" Pôn Pốt!

    Từ cuối năm 1979, Lê Đức Anh đề ra chủ trương "khóa chặt biên giới", "xây dựng tuyến phòng thủ biên giới" với mật danh K5 bằng cách huy động đông đảo nhân dân các địa phương nước bạn, từ rừng núi đến đồng bằng lên biên giới cùng quân tình nguyện Việt Nam và bộ đội bạn chặt cây, đào hào, rải chông và căng giây thép gai nhằm ngăn chặn quân Pôn Pốt từ Thái Lan vào đất Campuchia (!). Mặc dù ta và bạn đã bỏ ra nhiều công sức và tiền của trong nhiều năm, nhưng biên giới vẫn không "khóa chặt" được, địch vẫn mở được hành lang qua biên giới vào nội địa, xây dựng được nhiều căn cứ dọc biên giới, có nơi vào sâu đến 30, 40 kilômét.

    Do chủ trương sai lầm của Lê Đức Anh mà hàng chục vạn cán bộ chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam cũng như bộ đội và nhân dân bạn đã bỏ xác trên tuyến biên giới dài 1.200 km cũng như trong nội địa do bị địch đánh úp, do mìn và sốt rét ác tính!

    Mặc dù vậy, đến năm 1983, Lê Đức Anh vẫn cho rằng ở Campuchia chưa có chiến tranh, chỉ mới là những "hoạt động du kích" của "tàn quân Pôn Pốt". Chúng sẽ bị tàn lụi vào năm 1985 như nghị quyết của ban cán sự và bộ tư lệnh 719! Khi bộ phận tiền phương của cục khoa học quân sự bộ tổng tham mưu tại Campuchia đề nghị nên có sự đánh giá khách quan hơn, có sự chỉ huy chiến tranh bài bản hơn trên cơ sở nghiên cứu tính chất và đặc điểm của cuộc chiến tranh ở Campuchia để tìm ra quy luật đặc thù của nó, thì Lê Đức Anh nổi giận, ra lệnh cho cơ quan tiền phương cục khoa học quân sự gồm 10 đại tá phải rút ngay về nước, trả lại cho bộ tổng tham mưu với lý do "tinh giản biên chế ở chiến trường!".

    Có những sai lầm khuyết điểm như trên, nhưng Lê Đức Anh vẫn thăng tiến rất nhanh, từ ủy viên trung ương khóa 4 lọt vào bộ chính trị khóa 5 rồi tiến lên nắm chức bộ trưởng bộ quốc phòng, chủ tịch nước!

    6. Trong quan hệ gia đình, Lê Đức Anh là người chồng phản bội: Ra Bắc được mấy năm, Lê Đức Anh nói với đ/c Đồng Văn Cống là sẽ xin lấy vợ khác, vì bà Bảy Anh trong Nam đã lấy chồng, lại thuộc thành phần gia đình phản động làm tay sai cho địch! Đ/c Đồng Văn Cống nói: "Hôm ở Cao Lãnh tôi thấy chị Bảy khóc rất dữ khi tiễn Anh đi tập kết; nghe nói sau đó chị về công tác ở miền Đông, căn cứ vào đâu mà anh nói Chị đi lấy chồng và theo địch? Tôi không tán thành".

    Nhưng rồi nhờ sự ủng hộ của Lê Đức Thọ, Lê Đức Anh vẫn bỏ được vợ cũ, lấy được vợ mới. Trong lúc đó thì trong hoàn cảnh đấu tranh khốc liệt và gian khổ ở miền Nam, chị Bảy Anh vẫn một lòng kiên trung chờ đợi và tiếp tục hoạt động cách mạng, làm ủy viên tỉnh ủy Bình Dương cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng!
    Khi biết chuyện này, các đồng chí Phạm Hùng, Nguyễn Thị Định và đồng bào cán bộ miền Nam đều rất bất bình, cho Lê Đức Anh là một tên vô đạo đức!

    Thưa bộ chính trị và ban chấp hành trung ương đảng!

    Đây không phải lần đầu tiên các đảng viên Nam Bộ báo cáo với đảng những hiểu biết nói trên về Lê Đức Anh.

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 8)

    Trả lờiXóa
  8. (Lê Đức Anh-phần 8)

    Từ năm 1982, khi được tin Lê Đức Anh vào bộ chính trị khóa 5, đồng chí thiếu tướng Tô Ký và hai đồng chí Bảy Cống và Năm Thi bàn nhau và đã làm báo cáo gởi ủy ban kiểm tra trung ương đảng và thường vụ thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, nhưng không có hồi âm!

    Cuối năm 1986 đầu năm 1987, khi thấy Lê Đức Anh lại được bầu vào bộ chính trị rồi làm bộ trưởng bộ quốc phòng sau hai cái chết bất ngờ của hai đại tướng Hoàng Văn Thái và Lê Trọng Tấn, đ/c Nguyễn Văn Thi lại viết thơ tay gởi trực tiếp đến các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Đức Tâm, Lê Đức Thọ nói rõ lai lịch và những hành động đáng ngờ của Lê Đức Anh trước và sau cách mạng tháng 8-1945, nhưng 18 năm qua các khóa trung ương vẫn chưa có trả lời.

    Đến Hội nghị trung ương 11B khóa 8 tháng 2 năm 2001, trước thủ đoạn nói xấu, vu khống quá lộ liễu của Lê Đức Anh nhằm lật đổ tổng bí thơ Lê Khả Phiêu, đồng chí Hai Xô đang làm việc ở Hà Nội biết đ/c Năm Thi từng có đơn tố giác, bèn gọi Năm Thi ra gặp các đồng chí Hai Xô, Nguyễn Đức Tâm, Mười Hương và ủy ban kiểm tra trung ương để làm rõ quá khứ của Lê Đức Anh (đ/c Đồng Văn Cống không ra Hà Nội trực tiếp báo cáo, đã phát biểu vào băng ghi âm gởi ra ủy ban kiểm tra trung ương vào đầu tháng 3 năm 2001). Trong cuộc họp đó, đ/c Nguyễn Đức Tâm xác nhận: khi làm trưởng ban tổ chức trung ương, có nhận được thơ tố giác của đ/c Năm Thi, đã báo cáo với Lê Đức Thọ nhưng được trả lời là gác lại, giải quyết sau. Thấy Lê Đức Anh được Lê Đức Thọ bảo vệ, đ/c Nguyễn Văn Linh đành phải gác qua. Cũng trong cuộc họp đó, đ/c Hai Xô phát biểu: "Nếu không chặn đứng được mưu đồ của Lê Đức Anh và đồng bọn, thì tình hình nội bộ đảng sẽ ngày càng nghiêm trọng!".

    Như vậy là hơn hai chục năm qua, qua nhiều lần đại hội đảng và nhiều khóa trung ương, chúng tôi đã nhiều lần nói rõ về Lê Đức Anh, nhưng mãi cho đến nay lai lịch, và các hành vi sai trái của nhân vật này vẫn chưa được xác minh và xử lý, gây tác hại nghiêm trọng đến sự trong sạch và vững mạnh, sự đoàn kết và thống nhất của đảng.

    Chúng tôi nhất trí với ý kiến của đại tướng Võ Nguyên Giáp là "ban chấp hành trung ương khóa 9 cần xử lý kiên quyết, dứt điểm, nghiêm minh những vụ việc tồn đọng nói trên theo đúng điều lệ của đảng, pháp luật của nhà nước, và kỷ luật của quân đội, dù người đó là ai, ở bất kỳ cương vị nào!".

    Chúng tôi tán thành ý kiến của các đ/c Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Nam Khánh, Nguyễn Tài v.v. là "không cho phép duy trì mãi một tổ chức siêu đảng, siêu chính phủ, không thể để Tổng Cục 2 tồn tại với quyền hạn quá rộng như nghị định 96/CP cho phép, mà chỉ tập trung vào nhiệm vụ tình báo quân sự trực thuộc bộ tổng tham mưu như trước đây".

    Không cho phép tái diễn những hành vi hãm hại người trung thực, như người ta từng vu khống, tước quân hàm và định bắt giam thượng tướng Trần Văn Trà, sau đó phải trả lại quân hàm mà không công bố; từng vu khống với ý đồ hãm hại đại tướng khai quốc công thần Võ Nguyên Giáp!

    Chúng tôi cho rằng: không chỉ riêng vụ T4 mà toàn bộ những vụ việc xảy ra mấy chục năm qua là những mắt xích của một vụ án chính trị nghiêm trọng nhất trong lịch sử 75 năm của đảng, có quan hệ đến sự tồn vong của đảng và đất nước.

    Đây không phải là "chuyện ngày xưa" của mấy vị cách mạng lão thành mà các khóa bộ chính trị và trung ương sau này không thể làm rõ được. Không! Đây là những vấn đề lịch sử quan trọng cần xác minh để soi sáng những vụ việc ngày nay. Mảnh đất Lộc Ninh và không ít nhân chứng cùng thời vẫn còn sống. Chỉ cần có trách nhiệm, có dũng khí và quyết tâm là làm được! Chúng tôi sẵn sàng có một cuộc đối chất trực diện nếu có bộ chính trị yêu cầu!

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 9)

    Trả lờiXóa
  9. (Lê Đức Anh-phần 9)

    Không thể vin vào lý do: "ổn định nội bộ" mà bỏ qua và che giấu việc này, vì nhiều tài liệu đã được công bố trên Internet, nên trong đảng cũng như ngoài đảng, trong nước cũng như ngoài nước, nhiều người đã biết các vụ việc xảy ra. Hồ chủ tịch nói: "Một đảng che giấu khuyết điểm sai lầm của mình là một đảng hỏng!". Bộ chính trị càng bưng bít thì càng mất uy tín, càng làm giảm lòng tin của đảng viên và quần chúng đối với trung ương.

    Đúng như đồng chí Nguyễn Trọng Vĩnh đã cảnh báo: "Đang có những làn sóng bất bình ngầm ngày càng lan rộng. Sự yên lặng hiện nay là sự yên lặng của những quả bom nổ chậm chưa đến giờ hẹn". Tình hình trong Nam cũng vậy.

    Kính mong bộ chính trị và ban chấp hành trung ương lắng nghe tiếng nói đầy tâm huyết của các tướng lĩnh, các cán bộ cách mạng lão thành mà quá trình hoạt động và sự đóng góp cho cách mạng đã chứng minh sự trung thành của họ.

    Giải quyết dứt điểm và thành công vụ án chính trị siêu nghiêm trọng này, kiên quyết loại trừ những phần tử cơ hội ra khỏi các cơ quan quyền lực của đảng và nhà nước, chấm dứt các hiện tượng cá nhân lũng đoạn là việc làm cấp thiết và cực kỳ quan trọng để chuẩn bị cho đại hội toàn quốc lần thứ 10 của đảng.

    Đây cũng là việc làm thiết thực kỷ niệm 75 năm ngày thành lập đảng ta!

    Xin gởi đến các đồng chí bộ chính trị và trung ương lời chào trân trọng và rất mong được sớm trả lời!

    Xin cám ơn.

    Phạm Văn Xô
    Địa chỉ: 225-18 Xô Viết nghệ Tinh, quận Bình Thạnh,
    TP. Hồ Chí Minh - Điện thoại: 8.991300

    Đồng Văn Cống
    Địa chỉ: 774-2 Nguyễn Kiệm, quận Phú Nhuận,
    TP. Hồ Chí Minh - Điện thoại: 8.447328

    Nguyễn Văn Thi
    Địa chỉ: 20B88 Cư xá Nguyễn Trung Trực, đường 3-2, quận 10,
    TP. Hồ Chí Minh - Điện thoại: 8.655878”.

    Qua bức thư chúng ta thấy gì? Đó là chính cộng sản đã khẳng định Lê Đức Anh là cai cao su ác ôn chứ không phải viên chức hay công nhân. Vậy mà hắn dám giả danh người lương thiện. Đó là tội ác cần được phanh phui. Ngoài ra xung quanh con người này cũng là một sự thủ đoạn và chống phá ngay cả đồng chí của mình. Do đó nhân cách của Anh chỉ là số không tròn trĩnh.

    Thứ hai, để khẳng định Lê Đức Anh là cai lé đánh đập phu đồn điền cao su chúng ta cùng đọc đoạn trích sau từ báo cáo tổng cục chính trị bộ quốc phòng cộng sản năm 2005: “Việc một số nguồn tin đồng chí Lê Đức Anh đã từng có thời gian làm phu coi đồn điền cao su là có thật. Tuy nhiên sau đó đồng chí đã công khai minh bạch điều này với tổng cục chính trị, ban bí thư trung ương đảng năm 1995. Xét công lao và thành tích của đồng chí trong 2 cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc và trong suốt quá trình làm cai phu đồng chí không gây tội ác nào với nhân dân nên đảng và nước thống nhất chấm dứt mọi nghi kỵ xung quanh việc này...”.

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 10)

    Trả lờiXóa
  10. (Lê Đức Anh-phần 10)

    Mặc dù báo cáo là vậy. Tuy nhiên nếu đọc đầy đủ các báo cáo mật của Vũ Quốc Hùng, hay thư của Nguyễn Chính Tâm (cộng sản kỳ cựu) cho thấy Lê Đức Anh là một kẻ nhan hiểm và mưu mô đấu đá như bản thân cái gốc cai phu độc ác của mình:

    “Nhằm hạ bệ Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu trước Đại hội IX bằng việc gây sức ép nhiều mặt để yêu cầu Ban Chấp hành Trung ương phải kỷ luật Lê Khả Phiêu trước khi tổ chức Đại hội IX (bởi vì Lê Khả Phiêu đã qua mặt cả Lê Đức Anh và Đỗ Mười, có ý định giải tán Ban Cố vấn hay chọc gậy bánh xe, không muốn để cho 2 ông Thái thượng hoàng này lộng quyền đứng trên Bộ Chính trị và Ban chấp hành Trung ương để sai khiến) nên Lê Đức Anh cùng tay sai là Nguyễn Bắc Son đã tiến hành những hoạt động hết sức mờ ám, bỉ ổi, thâm độc và vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức và Điều lệ Đảng. Có thể do nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó sự tác động và chỉ huy của Lê Đức Anh và Đỗ Mười đã đóng vai trò quan trọng nhất trong việc ngăn chặn Lê Khả Phiêu tiếp tục ứng cử chức vụ Tổng Bí thư trong Đại hội IX của Đảng. Cũng chính vì vậy mà một kẻ ba phải, thiểu năng về trí tuệ nhưng tham lam và hãnh tiến, có mác là người dân tộc thiểu số đã được Đỗ Mười và Lê Đức Anh chọn làm Tổng Bí thư để dễ bề sai khiến. Còn kẻ phản thầy Trần Đình Hoan đã được thưởng cho chức Trưởng ban Tổ chức Trung ương để còn sắp xếp đệ tử của Đỗ Mười, Lê Đức Anh vào các vị trí then chốt, béo bở của bộ máy Đảng và Nhà nước; Nguyễn Khoa Điềm, đàn em thân tín của Lê Đức Anh đã được bố trí vào Bộ Chính trị để giữ chức Trưởng ban Tưởng Văn hóa Trung ương.

    Đáng tiếc là hình thức kỷ luật của Trung ương đối với Lê Đức Anh và Đỗ Mười là quá nhẹ (chúng tôi không rõ khiển trách hay cảnh cáo) và không được thông báo rộng rãi trong toàn Đảng để tất cả các đảng viên đều biết. Hơn nữa vấn đề man khai ngày vào Đảng của Lê Đức Anh cho đến nay vẫn chưa được kết luận chính thức. Đây không chỉ là trách nhiệm, khuyết điểm của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương khóa VIII mà còn là trách nhiệm nặng nề của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương khóa IX. Vì vậy vấn đề Đảng tịch của Lê Đức Anh cần được làm sáng tỏ trước khi tổ chức Đại hội X của Đảng để lấy lại lòng tin của đảng viên và các cán bộ cách mạng lão thành đối với Đảng.

    Điều đáng buồn hơn nữa là tên tay sai đắc lực của Lê Đức Anh là Nguyễn Bắc Son (kẻ đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức và điều lệ Đảng lại được Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và Trưởng ban Tổ chức Trung ương Trần Đình Hoan đạo diễn, bố trí giữ chức Bí thư tỉnh ủy Thái Nguyên để chui tiếp vào Ban chấp hành Trung ương khóa X. Qua đó chúng ta cũng thấy là thế lực của Lê Đức Anh, Đỗ Mười đang còn khá mạnh và tư cách của Nông Đức Mạnh, Trần Đình Hoan lại quá kém. Cũng may là Hội nghị Trung ương 13 đã loại được Trần Đình Hoan, Nguyễn Chí Vịnh, Nguyệt Việt Tiến... khỏi danh sách ứng cử viên Ban chấp hành Trung ương khóa X. Hy vọng Hội nghị Trung ương 15 và Đại hội X sẽ sáng suốt hơn để loại tiếp Nguyễn Bắc Son và cả Nông Đức Mạnh (vì đã quá tuổi 65, năng lực kém, tham lam, hãnh tiến, nhu nhược, thiếu bản lĩnh quyết đoán nên đã để cho Đỗ mười và Lê Đức Anh lộng hành sai khiến, chỉ biết yêu bản thân mình và nhiều tai tiếng như các thư phản ánh và góp ý kiến của các đồng chí nguyên ủy viên Trung ương Đảng các khóa trước đây như Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, Trung tướng Nguyễn Hòa, đồng chí Lê Văn Hiển, đồng chí Nguyễn Trung Tín …, các lão thành cách mạng như đồng chí Nguyễn Văn Thi, Trần Đại Sơn …) ra khỏi danh sách mà Ban chấp hành Trung ương khóa IX giới thiệu cho Đại hội X.

    Nguyễn Chính Tâm
    Lão thành Cách mạng, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng” (4)

    Thứ ba, về con người Lê Đức Anh cũng là một kẻ lá mặt lá trái và cũng quen thói cộng sản đó là nói thì hay và làm thì khác. Hẳn chúng ta còn nhớ trong vụ án của anh Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng thì chính Lê Đức Anh đã nói: “Sử dụng bộ đội để cưỡng chế là tuyệt đối sai”.

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 11)

    Trả lờiXóa
  11. (Lê Đức Anh-phần 11)

    Nhưng cuối cùng thì Lê Đức Anh đã làm gì? Chỉ là nói mà thôi để rồi bè lũ cướp ngày của đồng chí X đưa anh Vươn vào tù trong khi Lê Đức Anh được tiếng “ vì dân”. Đó chính là bộ mặt thật của Lê Đức Anh cũng giống như nhiều ông già cộng sản “chỉ tốt, chỉ phản tình” khi hết ăn của dân được nữa.

    Ngoài ra, Lê Đức Anh còn là một tên tay sai hèn hạ của Lê Đức Thọ. Bằng chứng, đó là vào ngày 30/4/1975, Lê Đức Thọ hống hách ra lệnh cho Đại sứ Pháp là ông Mérillon phải rời Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Sau đó cần Pháp, thì lại sang quỵ lụy như việc vào năm 1989, sang chữa bệnh ung thư ở nhà thương quân đội Val de Grace, ở vùng Paris, năn nỉ Pháp giúp đỡ sau khi biết rõ Liên Xô sẽ sụp đổ, và thất bại trong việc năn nỉ Hoa Kỳ giúp đỡ, vì Hoa kỳ chú trọng đến Trung Cộng lúc bấy giờ. Việc năn nỉ Pháp cũng không mang đến kết quả vì Pháp cũng không có dồi dào về kinh tế và Pháp đặt điều kiện là phải dân chủ hóa chế độ. Điều kiện mà Thọ không chịu. Sau đó Lê Đức Thọ hèn hạ quay sang năn nỉ Trung Cộng. Chính Thọ đã ra lệnh cho 2 tay em của mình là Đỗ Mười và Lê Đức Anh thi hành lệnh của mình, nên mới đi đến quyết định họp với Trung Cộng ở Thành đô vào tháng 3/1990, một cuộc họp bán nước toàn diện cho Trung cộng tiếp nối ý tưởng của Hồ Chí Minh.

    Thứ tư, tội ác của Lê Đức Anh còn thể hiện khi hắn cùng Lê Đức Thọ chỉ đạo đánh sang cả Thái Lan vi phạm luật pháp quốc tế (Xin xem lại “Những sự thật cần phải biết - Phần 22”). Để khẳng định rõ vai trò của Lê Đức Anh trong vụ này chúng ta nên chú ý tới cuốn sách hồi ký “Cuộc chiến tranh bắt buộc” của đại tá cộng sản Nguyễn Văn Hồng. Cuốn sách có đoạn:

    “Tôi nhớ cũng trong mùa khô năm 1982-1983, khi tiến công một loạt các căn cứ còn lại dọc biên giới từ Ô-đa xuống Com Riêng, trung đoàn bộ binh 31 đã cho một lực lượng vượt qua biên giới Campuchia-Thái Lan, bố trí phục kích trên một con đường mòn chạy từ phía Nam lên Ô-đa-con đường này thuộc lãnh thổ Thái Lan. Trong lúc ta đang tiến công vào trận địa, thì có một toán lính theo con đường này tiến vào trận địa, anh em đã nổ súng diệt gọn toán địch. Khi tiến lên thu vũ khí, mới biết được toán địch này là lính biên phòng Thái Lan qua trang bị, phù hiệu và cấp hiệu đeo trên ve áo.

    Lập tức, máy bay trinh sát và máy bay C130 của không lực Thái lên quần lượn và bắn phá dọc biên giới. Chúng đã dùng súng mát 12,7 mm từ trên máy bay vãi đạn xuống đội hình của quân ta. Trước tình hình đó, các đơn vị điện lên Sở chỉ huy sư đoàn: -Có được bắn máy bay không? Đây là một tình huống ngoài dự kiến nên chưa có sự chuẩn bị trước. Chúng tôi đã báo cáo lên Sở chỉ huy Mặt trận. Hôm sau, Mặt trận tăng cường xuống cho chúng tôi mấy cơ cấu phóng A72 (loại tên lửa vác vai đi theo đội hình bộ binh). Tôi ra lệnh cho các đơn vị: -Hãy sẵn sàng! Nếu máy bay bắn vào đội hình của ta thì kiên quyết phải bắn hạ! Song do địa hình ở đây có ảnh hưởng đến tính năng kỹ thuật của loại súng hỏa tiễn này và cũng do trình độ sử dụng súng của anh em chưa tốt, nên khi có máy bay, ta bắn đến 5 quả đạn mà không đạt được kết quả. Tuy nhiên, đây cùng là lời cảnh cáo đối với nhà cầm quyền Thái Lan đã dung túng, bao che cho bọn phản động Pôn Pốt - Iêng Xa-ri, can thiệp vào công việc nội bộ của Campuchia.”.

    Qua đoạn trích chúng ta thấy điều gì? Đó là quân đội cộng sản đã vi phạm chủ quyền Thái, bắn chết lính Thái nhưng không xin lỗi mà còn dùng tên lửa phòng không vác vai bắn máy bay của quân đội Thái Lan. Điều đáng nói là quân của Nguyễn Văn Hồng đã xin ý kiến “trên”. Mà “trên” ở đây chính là Lê Đức Anh chỉ huy trực tiếp chiến trường Campuchia giai đoạn đó. Và quyết định đến việc đánh hay không trên đất Thái chính là một kẻ quyền thế hơn nhiều đó chính là Lê Đức Thọ.

    Bạn đọc có thể đọc toàn bộ cuốn sách tại trang của đội ngũ hồng vệ binh cộng sản: (5)

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 12)

    Trả lờiXóa
  12. (Lê Đức Anh-phần 12)

    II. Tham gia tích cực Bán nước:

    Lê Đức Anh là một tên cai phu cao su độc ác. Không những vậy nổi bật lên là tội ác bán nước cho Trung cộng một cách tích cực cùng bè đảng cộng sản. Hiện nay đã có rất nhiều tài liệu nói rõ ràng về điều đó.

    Thứ nhất, để vấn đề được minh bạch sáng tỏ, hãy đọc cuốn “Hồi ký Trần Quang Cơ” của ông Trần Quang Cơ, nhân chứng lịch sử giữ vai trò quan trọng trong Bộ Ngoại Giao của cộng sản Hà Nội vào thời điểm đó. Về vai trò làm đầu sai trong việc đưa nước ta vào tròng ách nô lệ giặc phương Bắc của Nguyễn Văn Linh, TBT đảng cs VN và Lê Đức Anh - đại tướng. Ông Trần Quang Cơ viết:

    “Ngày 5.6.90, vài ngày trước khi Từ Đôn Tín đến Hà Nội, TBT Nguyễn Văn Linh đã mời đại sứ Trương Đức Duy (vừa từ Bắc Kinh trở lại Hà Nội) đến Nhà khách Trung ương Đảng nói chuyện thân mật để tỏ lòng trọng thị đối với Bắc Kinh. Trong cuộc gặp, như để chấp nhận lời phê bình của Đặng (nói qua Kayson), Nguyễn Văn Linh nói: "Trong quan hệ hai nước, 10 năm qua có nhiều cái sai. Có cái đã sửa như việc sửa đổi Lời nói đầu của Hiến pháp, có cái sai đang sửa". Anh sốt sắng ngỏ ý muốn sang gặp lãnh đạo Trung Quốc để "bàn vấn đề bảo vệ Chủ nghĩa xã hội" vì "đế quốc đang âm mưu thủ tiêu chủ nghĩa xã hội... chúng âm mưu diễn biến hòa bình, mỗi đảng phải tự lực chống lại. Liên Xô là thành trì XHCN, nhưng lại đang có nhiều vấn đề. Chúng tôi muốn cùng các người cộng sản chân chính bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xã hội... Tôi sẵn sàng sang Trung Quốc gặp lãnh đạo cấp cao Trung Quốc để khôi phục lại quan hệ hữu hảo. Các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay... Trung Quốc cần giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, kiên trì chủ nghĩa Mác – Lênin ….Sáng 6.6.90, Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh lại gặp riêng và mời cơm đại sứ Trương Đức Duy. Cuộc gặp riêng chỉ giữa hai người, Trương Đức Duy vốn là thông dịch, rất thạo tiếng Việt nên không cần có người làm phiên dịch. Nội dung cuộc gặp này mãi đến ngày 19.6 trong cuộc họp BCT để đánh giá cuộc đàm phán 11-13.6 giữa tôi và Từ Đôn Tín, Lê Đức Anh mới nói là đã gặp Trương Đức Duy để nói cụ thể thêm ba ý mà anh Linh đã nói với đại sứ Trung Quốc (tham tán Lý Gia Trung và Bí thư thứ nhất Hồ Càn Văn) đã cho ta biết nội dung câu chuyện giữa Lê Đức Anh và Trương Đức Duy. Còn đại sứ Trung Quốc cho anh Ngô Tất Tố, Vụ trưởng vụ Trung Quốc biết là trong cuộc gặp ông ta ngày 6.6, anh Lê Đức Anh đã nói khá cụ thể về "giải pháp Đỏ": "Sihanouk sẽ chỉ đóng vai trò tượng trưng, danh dự, còn lực lượng chủ chốt của hai bên Campuchia là lực lượng Heng Somrin và lực lượng Polpot, Trung Quốc và Việt Nam mỗi bên sẽ bàn với bạn Campuchia của mình, và thu xếp để hai bên gặp nhau giải quyết vấn đề. Địa điểm gặp nhau có thể ở Việt Nam, có thể ở Trung Quốc, nhưng ở Trung Quốc là tốt hơn cả. Đây là gặp nhau bên trong, còn bên ngoài hoạt động ngoại giao vẫn như thường... Ngày xưa Polpot là bạn chiến đấu của tôi...”.

    Việc bán nước cho Trung cộng còn được Trần Quang Cơ tiết lộ thông qua sự dắt mối của Vũ Xuân Vinh, ông Trần Quang Cơ viết:

    “Theo Hồ Càn Văn, ngày 23.5.90 Cục trưởng Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng Việt Nam Vũ Xuân Vinh đã mời Tùy viên quân sự Trung Quốc Triệu Nhuệ đến để thông báo là TBT Nguyễn Văn Linh và Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh sẽ tiếp Từ Đôn Tín khi đến Hà Nội.”

    Qua đây cho thấy được là Lê Đức Anh chính là một tên bán nước và nhiệt tình trong việc đưa Việt Nam thành nô lệ cho Trung cộng.

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 13)

    Trả lờiXóa
  13. (Lê Đức Anh-phần 13)

    Thứ hai, bên cạnh hồi ký của Trần Quang Cơ là “hồi ký” của đại sứ Trung cộng Trương Đức Duy tại Hà Nội cùng thời điểm đó. (Bản tiếng Việt của dịch giả Quốc Thanh). Trước hết là những cuộc gặp bí mật giữa Lê Đức Anh với đại sứ Tầu Trương Đức Duy và giữa TBT Nguyễn Văn Linh với Trương Đức Duy do chính sứ Tầu viết. Về vai trò làm tay sai cho giặc của Lê Đức Anh, cũng chính do đại sứ Tầu Trương Đức Duy viết:

    “Hơn 10 năm qua, quan hệ Trung-Việt ở trạng thái không bình thường, sứ quán không có mối liên hệ nào với người tin cậy bên Nguyễn Văn Linh, vậy thì nên thông qua con đường nào đây để yêu cầu được gặp riêng một cách ổn thỏa hơn? Tôi triệu tập ngay cuộc họp Đảng ủy mở rộng, mời mọi người bàn bạc ra mưu sách. Ý tưởng thông qua con đường Vụ đối ngoại Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam thì sợ sẽ không giữ được bí mật, mà cũng khó để thực hiện “gặp riêng”.

    Có đồng chí nêu xem có thể thông qua con đường quân đội được không? Tôi cho như thế sẽ khá là ổn thỏa, lại càng có lợi hơn cho việc bảo mật. Thế là tôi liền nghĩ tới Thiếu tướng Vũ Xuân Vinh Cục trưởng Cục đối ngoại Bộ quốc phòng mà tôi khá thân thiết, từ ngày đến Việt Nam lần này, tôi đã gặp ông ta vài lần, quan hệ rất tốt, có thể thông qua ông ta để yêu cầu được gặp Đại tướng Lê Đức Anh (Ủy viên Bộ chính trị Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, Bộ trưởng Bộ quốc phòng) thân thiết với Nguyễn Văn Linh, rồi xin Lê Đức Anh giúp đỡ bố trí cho tôi bí mật gặp Nguyễn Văn Linh.

    Mọi người thấy biện pháp này có thể được. Thế là tôi lập tức cho Tùy viên quân sự Triệu Nhuệ liên hệ chính thức với Cục trưởng Vũ Xuân Vinh. Khi gặp Cục trưởng Vũ Xuân Vinh, Tùy viên quân sự Triệu đã trịnh trọng đề xuất: “Đại sứ Trương có việc gấp và quan trọng muốn được gặp Bộ trưởng Lê Đức Anh. Xin Cục trưởng bố trí cho ngay”.

    Chiều hôm đó, Vũ Xuân Vinh trả lời Tùy viên quân sự Triệu rằng: “Đồng chí Đại tướng rất vui lòng được gặp đồng chí Đại sứ, 8 giờ sáng hoặc 7 giờ tối mai đều được. Đại tướng còn nói, sau này đồng chí Đại sứ có muốn gặp ông thì cứ Cục đối ngoại Bộ quốc phòng bố trí là được”. Vào 8 giờ sáng ngày 20 tháng 8, xe của tôi chạy thẳng vào Bộ quốc phòng. Thiếu tướng Vũ Xuân Vinh đón đợi ở cổng tòa nhà, dẫn tôi vào phòng tiếp khách của Bộ trưởng rồi lui ra, khép chặt cửa lại. Tôi đang tiến thẳng vào thì Bộ trưởng Lê Đức Anh cũng bước vào phòng khách từ một cửa khác, khi gặp nhau Lê Đức Anh bắt tay, ôm tôi rất nhiệt tình.

    Tôi nói xã giao: “Thực sự được xin lỗi, mới sáng ra đã tới làm phiền đồng chí Đại tướng”. Đại tướng Lê Đức Anh mỉm cười bảo: “Đại sứ đến lúc nào tôi cũng tiếp”. Trong phòng khách ngoài hai chúng tôi ra, không có ai đi theo. Chuyện trò hàn huyên xong tôi chuyển ngay sang chủ đề chính, đầu tiên bày tỏ lãnh đạo Trung Quốc rất coi trọng mối quan hệ Trung-Việt, hiện nay tình hình quốc tế phát triển rất nhanh, thời gian không chờ đợi mình, cả hai bên cần chớp lấy thời cơ, nhanh chóng loại bỏ trở ngại là vấn đề Campuchia, từ đó thực hiện bình thường hóa quan hệ Trung-Việt.

    Sau đó tôi nhắc đến lời nhắn của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã được ghi lại gửi cho tôi, tôi cảm thấy hết sức quan trọng, cho nên mong được gặp riêng Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh để trực tiếp lắng nghe ý kiến của Tổng bí thư, đồng thời tôi cũng có một vài điều nữa cần nói với Tổng bí thư. Tôi nói, hiện giờ mà thông qua con đường khác sẽ có khó khăn, cho nên xin phiền đồng chí Đại tướng giúp cho. Lê Đức Anh nói rất thoải mái: “Đây quả thực là việc hết sức quan trọng, hôm nay tôi sẽ báo cáo lại yêu cầu của Đại sứ với Tổng bí thư”. Tiếp đó, Lê Đức Anh cũng nói về hai quan điểm, đại ý là: Thứ nhất, nhấn mạnh Nguyễn Văn Linh rất có tình cảm với Trung Quốc, luôn chủ trương thân thiện với Trung Quốc, từ sau khi nhậm chức Tổng bí thư vào năm 1986 đã làm rất nhiều việc để khôi phục lại mối quan hệ giữa hai nước hai Đảng. Trước tình hình thế giới phức tạp như hiện nay, việc thực hiện bình thường hóa quan hệ giữa hai nước lại càng trở thành niềm mong muốn ấp ủ của ông ấy...”

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 14)

    Trả lờiXóa
  14. (Lê Đức Anh-phần 14)

    Và cuộc gặp giữa Trương Đức Duy và Lê Đức Anh có kết quả diễn tiến theo lời kể của Trương Đức Duy như sau:

    “Chiều hôm đó, Cục trưởng Vũ Xuân Vinh hẹn gặp gấp Tùy viên quân sự Triệu, nói rằng: “Theo chỉ thị của Đại tướng Lê Đức Anh, xin chuyển lời tới Đại sứ Trương. Vào 19 giờ 30 phút ngày 22, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh sẽ gặp riêng Đại sứ Trương tại phòng khách Bộ trưởng Bộ quốc phòng. Cả hai bên đều không đem theo phiên dịch và thư kí. Đề nghị Đại sứ Trương đổi sang một chiếc xe nhỏ, không cắm quốc kỳ, đi vào từ cửa bên Bộ quốc phòng...

    Vào 9 giờ tối hôm đó, Tùy viên quân sự Triệu vừa gặp mặt trung tá Vũ Tần đã nói thẳng vào vấn đề luôn rằng Đại sứ Trương có việc hết sức gấp và quan trọng, mong được gặp ngay Đại tướng Lê Đức Anh, xin đồng chí trung tá giúp bố trí cho. Vũ Tần bảo Đại tướng tối nay tham dự Hội nghị toàn thể Ban chấp hành trung ương khóa 9 Đảng cộng sản Việt Nam, không biết lúc nào tan. Tôi sẽ đến ngay nhà ông ta xem sao. Khi Đại tướng định giờ gặp một cái là tôi sẽ gọi ngay điện thoại báo cho anh biết. Tùy viên quân sự Triệu vừa về tới sứ quán chưa được bao lâu đã nhận ngay được trả lời điện thoại của Vũ Tần: “Đúng 8 giờ sáng mai Đại tướng sẽ gặp Đại sứ Trương, địa điểm vẫn ở chỗ cũ”. Sáng ngày 29, tôi đến phòng khách Bộ trưởng Bộ quốc phòng đúng giờ.

    Khi gặp mặt, Đại tướng Lê Đức Anh nói một cách dí dỏm: “Trông bộ dạng Đại sứ Trương vui thế kia, chắc là đem tin tốt lành đến cho chúng tôi rồi”. Tôi nói: “Chiều tối qua, tôi nhận được chỉ thị quan trọng của Trung ương. Cho nên, hôm nay vừa mới sáng ra đã lại tới làm phiền anh rồi”.

    Tiếp đó, tôi thông báo lại với Đại tướng Lê Đức Anh việc Tổng bí thư Giang Trạch Dân, Thủ tướng Lý Bằng mời Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng đi thăm Trung Quốc theo đường nội bộ, xin Lê Đức Anh chuyển lời mời đồng thời bố trí cho tôi được gặp Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh một lần nữa, để trả lời trực tiếp với đồng chí ấy.

    Lê Đức Anh bày tỏ: “Đây quả thực là một tin tốt lành, tôi nghe mà cảm thấy rất phấn khởi. Xin đồng chí Đại sứ cứ yên tâm, tôi sẽ báo cáo ngay với Tổng bí thư. Chuyến đi thăm lần này hết sức quan trọng, chúng tôi phải có những nỗ lực lớn nhất để chuyến đi thăm được thành công.”

    Sau khi cáo từ Lê Đức Anh về sứ quán được khoảng hơn 1 tiếng, Trung tá Vũ Tần ở Bộ quốc phòng Việt Nam đã hẹn với Tùy viên quân sự Triệu rằng: Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh sẽ cùng với Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Đỗ Mười gặp Đại sứ Trương vào 4 giờ chiều nay. Đại sứ có thể chính thức đề xuất yêu cầu được gặp mặt với Ban đối ngoại Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam...”

    http://4.bp.blogspot.com/-bPTWpPmVJFI/UlXaUr5MWgI/AAAAAAABbU4/3YyBLqhSscM/s320/temp-danlambao007.png
    (Hình trên) - Trương Đức Duy (đứng giữa) đang làm nhiệm vụ phiên dịch cho Hồ và Mao (ảnh công bố trên “Pháp chế vãn báo” báo số ra ngày 19/2/2012 được báo Lịch sử Đảng Cộng sản Trung cộng đăng lại)

    http://4.bp.blogspot.com/-tBiSM2czJOA/UlXakSyX8MI/AAAAAAABbVA/huwP_AIGANE/s1600/temp-danlambao007.png
    (Hình trên) - Qua đoạn hồi ký trên chúng ta thấy gì? Đó là Lê Đức Anh chính là kẻ muốn quy phục Trung cộng và tiếp tay cho Nguyễn Văn Linh và bộ sậu cộng sản bán nước cho giặc. Tội đó không thể tha thứ.

    Thứ ba, trên một bài báo của Vietnamnet (cộng sản) đã chỉ rõ vai trò kết nối bán nước của Lê Đức Anh như sau: “Sau khi ông Lê Đức Anh đi "tiền trạm" về. Từ ngày 3 đến ngày 10/11/1991, Tổng bí thư Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã thăm chính thức Trung Quốc. Hai bên Hội đàm, ra thông cáo chung và kí kết Hiệp định chính thức quan hệ bình thường giữ hai nước trên cơ sở 5 nguyên tắc hòa bình, đồng thời kí cả quan hệ bình thường giữa hai Đảng, khép lại 15 năm đối đầu căng thẳng.” (6)

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 15)

    Trả lờiXóa
  15. (Lê Đức Anh-phần 15 - Phần kết)

    Tất nhiên là bài báo không được phép nói thẳng ra Lê Đức Anh bán nước nhưng chúng ta thấy sự thật đã rõ ràng khi Kiệt và Mười đi thăm bán nước cho Trung cộng. Và vai trò kết nối ở đây có công không nhỏ của Lê Đức Anh. Sự kiện này đã được chính báo cáo của bộ chính trị cộng sản về Lê Đức Anh như sau:” “Đồng chí Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt, Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh v.v… đã có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng khởi đầu cho mối quan hệ bẳng 16 chữ vàng và 4 tốt hiện nay. Tiếp nối truyền thống của Mao chủ tịch và Hồ chủ tịch đã xây dựng …” (6)

    http://2.bp.blogspot.com/-e_kTgzhEjno/UlXbZbbRdHI/AAAAAAABbVI/2T70sYwdl4Y/s400/temp-danlambao007.png
    (Hình trên) - (“Ngày 19-11-1994 Tại Hà Nội, Đỗ Mười và Lê Đức Anh tại lễ đón tiếp Tổng bí thư Đảng Cộng sản, Chủ tịch nước Trung Quốc sang thăm Việt Nam. Chuyến thăm kéo dài đến 22-11-1994”./ Nguồn: Trung Quốc-Việt Nam (sách ảnh) Văn phòng Báo chí Quốc vụ viện nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa biên soạn. China Intercontinental Press, 2003, tr. 26/) (7)

    http://1.bp.blogspot.com/-dZ8rlfOwSQs/UlXb3xbzwYI/AAAAAAABbVQ/zn9Zu0Wt31U/s400/temp-danlambao007.png
    (Hình trên) - Bức ảnh quy tụ rất nhiều gương bán nước tiêu biểu trong
    cái gọi là “nhà văn hóa và thể thao” của chính Lê Đức Anh.

    Đến đây chúng ta nhận thấy rõ vai trò bán nước cực kỳ quan trọng của Lê Đức Anh trong móc xích bán nước của cộng sản Việt Nam.

    III. Kết luận:

    Qua trường hợp của Lê Đức Anh chúng ta thấy đây là một tên cai phu cao su có nhiều tội ác với những người dân lành. Đây là kẻ đã từng tiếp tay cho thực dân Pháp đánh đập nhân dân ta. Đó là tội ác không thể dung tha. Đặc biệt, Lê Đức Anh có vai trò rất quan trọng trong việc bán nước của đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó chúng ta cần phải thấy rõ được bộ mặt thật của Lê Đức Anh để nhân dân một ngày gần đây xét xử trước công luận về tội ác này. Đó chính là lẽ phải và chính nghĩa mà chúng ta phải đấu tranh vì một dân tộc Việt Nam trường tồn mãi mãi.

    22/09/2013
    Đặng Chí Hùng

    Trả lờiXóa
  16. PHẢN HỒI:

    Con quỷ 1 mắt tên là Lê đức Anh với cuộc đời đầy gian manh và tàn nhẫn:
    1/ Học hết chữ ở trường làng: 'đọc thông viết thạo' đi làm cu-li việt gian, cụ thể là cai quản phu cạo mủ cao su cho Tây.
    2/ Lấy vợ có con, cũng là "đồng chí". Khi tập kết ra Bắc sẵn sàng bỏ vợ để lấy con khác, trong khi con mụ trong Nam vẫn kiên trì "chiến đấu đợi thằng sở khanh".
    3/ Làm tư lệnh xâm chiếm CPC, năm 1988 dựng hồ sơ giả để bắt bớ giết người hàng loạt dẫn đến nỗi 1 cán bộ cao cấp của "bạn" CPC phải tự sát ở Xiêm Riệp.
    4/ Năm 1990, vì ít chữ và tham quyền nên bị Tàu dùng làm cầu nối cho bọn CSVN bán nước cho Tàu ở mật nghị Thành Đô.
    5/ Năm 1991 dàn cảnh ra vụ Năm Châu-Sáu Sứ để thanh trừng các "đồng chí đồng rận". Có nhiều tướng việt cộng bị chết (bí ẩn) hoặc bị sa thải.
    6/ Năm 2003 đã về hưu vẫn ngầm chỉ đạo, xạo ra vụ hồ sơ giả của T4 hòng đảo chánh để thành lập chính quyền mới hoàn toàn là tay sai cho Tàu.

    @ChotGianDiepTau

    Trả lờiXóa
  17. PHẢN HỒI (Lê Đức anh)

    Cơ quan Tình báo quân đội Việt Nam và những dấu hiệu của một đại họa

    “Tổng cục 2” là cách gọi tắt cơ quan đặc trách tình báo của Quân đội Nhân dân Việt Nam và kể từ năm 2004 đến nay, ba từ “Tổng cục 2” nhắc nhiều người nhớ đến một scandal, tuy ầm ĩ nhưng vẫn chưa có hồi kết.

    Hồi thượng tuần tháng 6, chỉ trong vòng hai ngày, tướng Võ Nguyên Giáp – một nhân vật được xem như “khai quốc công thần” của nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay – đã gửi liên tiếp hai lá thư, lặp lại một yêu cầu từng được ông nêu ra từ đầu năm 2004, đó là những nhân vật cao cấp trong Đảng và chính quyền đương nhiệm, cần giải quyết triệt để những vấn đề liên quan đến Tổng cục 2 thuộc Bộ Quốc Phòng.



    Scandal “Tổng cục 2”

    Đã và đang có những dấu hiệu cho thấy “Tổng cục 2” không còn đơn thuần là một scandal về những thủ đoạn tàn độc mà một số cá nhân, phe nhóm trong Đảng CSVN sử dụng để triệt hạ đối thủ của mình, nhằm thâu tóm quyền lực.

    Các tình tiết trước, trong và sau scandal “Tổng cục 2” chỉ ra một nguy cơ khác, đáng ngại hơn đối với vận mệnh quốc gia.

    Tiền thân của cơ quan tình báo quân đội Việt Nam hiện nay là Phòng Tình báo Quân ủy hội, thành lập vào tháng 10 năm 1945, do ông Hoàng Minh Đạo phụ trách. Sau một sắc lệnh được ban hành vào tháng 3 năm 1946 về tổ chức Bộ Quốc Phòng, tháng 3 năm 1947, Phòng Tình báo Quân ủy hội được chuyển thành Cục Tình báo, còn được gọi là Cục Quân báo hoặc gọi tắt là Cục 2.

    Trong 48 năm sau đó, Cục 2 vẫn chỉ là một cơ quan trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu của Quân đội nhân dân Việt Nam.

    Thế rồi đến năm 1995, Cục 2 được nâng lên thành Tổng cục 2, với tên gọi chính thức là Tổng cục Tình báo Quốc phòng và từ vị trí phụ thuộc, Tổng cục 2 được chuyển thành cơ quan ngang hàng với Bộ Tổng Tham mưu.

    Vai trò của Tổng cục 2, được ông Nông Đức Mạnh, khi ấy đang là Chủ tịch Quốc hội, hợp pháp hoá bằng Pháp lệnh Tình báo ban hành vào tháng 12 năm 1996. Sau đó, pháp lệnh vừa kể được ông Võ Văn Kiệt chi tiết hoá, bằng Nghị định 96, ban hành vào tháng 9 năm 1997.

    Pháp lệnh Tình báo đã đưa Tổng cục 2 thoát ra khỏi sự kiểm soát của Bộ Quốc Phòng khi xác định: “Lực lượng tình báo Việt Nam là một trong những lực lượng trọng yếu, tin cậy của Đảng và nhà nước, đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự quản lý thống nhất của Chính phủ (gọi tắt là lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước)”.

    Và Nghị định 96 đã phá vỡ mọi giới hạn về vai trò và hoạt động của Tổng cục 2, khi nhấn mạnh: “Đối tượng và mục tiêu của lực lượng tình báo thuộc Bộ quốc phòng là những nơi có tin tức, tài liệu liên quan đến nước Cộng hoà XHCN Việt Nam.

    Trong đó đặc biệt chú ý đến các quốc gia, tổ chức và các cá nhân ở trong nước và ngoài nước có âm mưu hoạt động, đe doạ chống lại Đảng CSVN, Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam”

    Cũng vì thế, Tổng cục 2 trở thành một cơ quan, liên tục bị các công thần như: ông Phạm Văn Xô – một trong những lãnh đạo đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương, cựu Phó Ban Tổ chức Trung ương hoặc những cán bộ, sĩ quan cao cấp của Đảng CSVN, chính quyền Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quân đội Nhân dân Việt Nam như:

    Đại tướng Võ Nguyên Giáp – cựu Bộ trưởng Quốc Phòng, người thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Đại tướng Chu Huy Mân - cựu Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, cựu Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Đại tướng Nguyễn Quyết - cựu Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, cựu Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh - cựu Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

    Thượng tướng Phùng Thế Tài - cựu Phó Tổng tham mưu trưởng. Thượng tướng Lê Ngọc Hiền - cựu Phó Tổng tham mưu trưởng. Thượng tướng Hoàng Minh Thảo – cựu Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Quân sự. Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp – cựu Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương. Trung tướng Đồng Văn Cống - cựu Phó Tổng thanh tra Quân đội.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Trung tướng Lê Tự Đồng - cựu Viện phó Học viện Quân sự cấp cao. Trung tướng Phạm Hồng Sơn - cựu Viện phó Học viện Quân sự cấp cao. Trung tướng Nguyễn Hoà – cựu Trưởng Đoàn Chuyên gia Quân sự tại Lào.

      Thiếu tướng Nguyễn Tài - cựu Thứ trưởng Bộ Công an. Ông Nguyễn Văn Thi - cựu Chủ nhiệm Hậu cần Bộ Tư lệnh Miền... cùng với rất đông cán bộ lão thành cách mạng, sĩ quan cấp tá, đòi phải kiểm tra toàn diện, xử lý triệt để.

      Siêu quyền lực

      Tổng cục 2 đã hoạt động ra sao và đã làm những gì khiến các công thần, những trụ cột của chế độ phẫn nộ đến như vậy?

      Trong nhiều thư được gửi liên tục cho Tổng Bí thư, Bộ Chính trị, những nhân vật vừa kể đã nêu ra vai trò, ý đồ của một số người tham gia nâng Cục 2 thành Tổng cục 2 và biến Tổng cục 2 thành một cơ quan “siêu quyền lực”, khiến Tổng cục 2 trở thành hiểm họa.

      Trong đó, có hai sai phạm bị xác định là “siêu nghiêm trọng” và được nhắc đi, nhắc lại nhiều lần: Vụ Sáu Sứ và vụ T4.

      Ông Bùi Tín - cựu Đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam, người theo dõi rất sát các diễn biến liên quan đến Tổng cục 2, tóm tắt về vụ Sáu Sứ:

      “Vụ Sáu Sứ còn gọi là vụ Năm Châu, xảy ra từ Đại hội 7, năm 1991. Vụ đó do bàn tay của Tổng cục 2, bố trí cho một số Đảng viên lâu năm ở miền Nam là Năm Châu và Sáu Sứ ra Hà Nội, mục đích để giăng bẫy ông Võ Nguyên Giáp, rồi từ đó, kết luận là ông Võ Nguyên Giáp bè phái, tham quyền, có ý đồ tập trung một số tay chân của mình để lật đổ Bộ Chính trị và chính quyền hồi đó.

      Thế nhưng tất cả những chuyện này là chuyện dựng đứng. Do đó mà ông Giáp yêu cầu phải làm rõ vụ Năm Châu và Sáu Sứ. Lúc ấy, họ cho rằng ông Giáp có ý định giành quyền Tổng bí thư và được ông Trần Văn Trà tiếp sức. Ông Trần Văn Trà định là giành chức Bộ trưởng Quốc phòng.

      Thế nhưng tất cả những cái đó đều là sự bịa đặt của Lê Đức Anh, của Nguyễn Chí Vịnh, của Đỗ Mười, để làm hại ông Võ Nguyên Giáp. Đấy là tóm tắt vụ Sáu Sứ với Năm Châu. Cả ông Năm Châu, bà Sáu Sứ đều đã chết rồi.”

      Vụ T4 cũng có tính chất tương tự, ông Bùi Tín kể tiếp:

      “Vụ T4 là vụ Nguyễn Chí Vịnh, cầm đầu Tổng cục 2 bịa đặt rằng họ đã đặt được một gián điệp của Việt Nam vào cơ quan CIA và điệp viên đó có bí danh là T4. T4 thông báo danh sách những người đã cộng tác với CIA, đã tiếp xúc với CIA, đã làm tay sai cho CIA.

      Danh sách đó dài lắm. Nó lên tới hơn 20 người. Trong đó có Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Trần Văn Trà rồi những người lúc bấy giờ đang còn tại chức như Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Thủ tướng Phan Văn Khải, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An, bà Võ Thị Thắng,..

      Mục đích của họ là gì? Mục đích của họ là bôi nhọ những người đó, rồi Tổng cục 2 cùng với Lê Đức Anh và Đỗ Mười được nước láng giềng lớn giúp đỡ làm một cuộc đảo chính, lật đổ hết và dựng lên một chính quyền mới, một Bộ Chính trị mới, một Ban Chấp hành Trung ương hoàn toàn mới và hoàn toàn là tay sai của Bắc Kinh.

      Đó là mưu đồ của T4 và cũng đã bị ông Giáp tố cáo, yêu cầu phải giải quyết một cách triệt để.”

      Theo nhiều tài liệu, Sáu Sứ và T4 chỉ là hai trong hàng loạt sai phạm đã xảy ra tại Tổng cục 2 và sự phẫn nộ trong hàng ngũ các công thần, những trụ cột của chế độ đã buộc Đảng CSVN phải tính đến việc xem xét toàn diện các sai phạm này vào năm 2005.

      Kết qủa xem xét, xử lý ra sao? Chúng tôi sẽ tiếp tục tổng hợp và tường trình trong bài kế tiếp

      Xóa
    2. 2
      Trong buổi phát thanh trước, Trân Văn đã tóm tắt về sự hình thành Cục Tình báo của Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, còn được gọi là Cục Quân báo, hay gọi tắt là Cục 2 và vì sao, năm 1995, Bộ Tổng Tham mưu đồng ý cho Cục 2 tách ra để nâng lên thành Tổng cục Tình báo Quốc phòng, quen được gọi là Tổng cục 2, trước khi Pháp lệnh Tình báo được ban hành vào cuối năm 1996, cũng như một số nguyên nhân khiến cơ quan này bị hàng loạt công thần, trụ cột của chế độ lên tiếng đòi phải kiểm tra toàn diện, xử lý triệt để.

      Buổi phát thanh này, Trân Văn trình bày tiếp những diễn biến sau đợt phản ứng đầu tiên, kéo dài trong hai năm 2004 và 2005.

      Không chỉ dàn dựng vụ Sáu Sứ và T4 với những tình tiết như ông Bùi Tín đã kể trong bài trước, tại Tổng cục 2 còn xảy ra nhiều chuyện tày trời khác.



      Phá hoại Đảng một cách có hệ thống
      Sau lá thư đề ngày 3 tháng 1 năm 2004 của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trong đó ông yêu cầu, Hội nghị Trung ương 9, khoá 9 xử lý kiên quyết, dứt điểm, nghiêm minh một tổ chức mà ông nhận định là “siêu đảng, siêu chính phủ, phá hoại Đảng một cách có hệ thống”, ở lá thư viết ngày 17 tháng 6 năm 2004 – một trong những tài liệu được nhận định là quan trọng nhất đối với vụ Tổng cục 2 - Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, một trong những người được Bộ Chính trị phân công theo dõi việc bảo vệ chính trị nội bộ, cho biết: Các vấn đề của Tổng cục 2 còn nhiều như tổ chức thu thập tài liệu và theo dõi cán bộ cao cấp, tổ chức cơ sở làm tài liệu giả, vu cáo nhiều đồng chí là đã làm tay sai cho địch. Người của Tổng cục 2 đã bán kế hoạch phòng thủ bầu trời cho nước ngoài. Người của Tổng cục 2 làm parabol để thu tiền bất hợp pháp, gian lận thuế giá trị gia tăng. Người của Tổng cục 2 còn đưa tài liệu lên mạng Internet nói xấu cán bộ lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Đặc biệt, Tổng cục 2 đã sử dụng một số người phức tạp, cài cắm người vào các cơ quan Đảng, Nhà nước để lấy tin, tung tin, bịa đặt, lừa dối Đảng… Cán bộ tình báo quân sự còn cấp giấy chứng minh quân báo cho tay chân Năm Cam hoạt động và liên hệ chặt chẽ với tay chân Năm Cam...

      Khó mà tưởng tượng được những hành động phạm pháp nghiêm trọng ấy lại diễn ra trong một cơ quan làm nhiệm vụ tình báo quân sự cấp chiến lược. Cơ quan tình báo mà bịa ra cơ sở đặc tình “ma” để lừa dối, vu khống chính trị cán bộ cao cấp từ Tổng bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng, Đại tướng, Thượng tướng, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng… là phạm tội ngang với tội phản bội Tổ Quốc, phản bội Đảng.

      Cũng theo tướng Nguyễn Nam Khánh: Những bản tin mà Tổng cục 2 đưa ra là nhằm vu khống chính trị, lừa dối, chia rẽ nội bộ Đảng, phá hoại Đảng, Nhà nước và quân đội, gây sự phân tâm, lũng đoạn tinh thần cán bộ đảng viên và nhân dân, vi phạm nghiêm trọng pháp luật, nguyên tắc kỷ luật đảng, tạo ra oan trái và đau khổ cho nhiều đồng chí. Với những bản tin mà tôi không thể trích dẫn hết, đã buộc cấp lãnh đạo cao nhất điều tra, thẩm tra, ít nhất là 10 vụ gây ra rất nhiều phức tạp.

      Tướng Nguyễn Nam Khánh nhận định: Đó là hành động phá hoại đảng, phá hoại chế độ xã hội chủ nghĩa, phá hoại Tổ Quốc. Đó không phải là chuyện riêng nội bộ Tổng cục 2, nội bộ Bộ quốc phòng. Đó là vấn đề của toàn Đảng, của pháp luật, của chế độ xã hội chủ nghĩa, liên quan đến an ninh của Tổ Quốc, đến đại đoàn kết dân tộc. Đó chính là nguy cơ làm mất sự ổn định chính trị, đã gây hậu quả nghiêm trọng... Nếu không kiên quyết xử lý thì sẽ dẫn đến mất ổn định chính trị ngày càng tăng, như một ung nhọt làm tan rã Đảng và chế độ.

      Xóa
    3. “Thất trảm sớ”
      Những ý kiến như thế của tướng Nguyễn Nam Khánh, của ông Phạm Văn Xô, một trong những lãnh đạo đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương, rồi của hàng chục vị tướng và nhiều cán bộ lão thành cách mạng, nhiều sĩ quan cấp tá đã được tiếp nhận thế nào? Việc xem xét, xử lý các sai phạm ra sao?

      Ông Bùi Tín kể: Lá thư của ông Giáp được rất nhiều vị tướng, từ ông Chu Huy Mân đến một số vị thiếu tướng, đặc biệt ông Nguyễn Nam Khánh hết sức ủng hộ. Do đó trước Đại hội 10, năm 2005, Ông Nông Đức Mạnh bị buộc phải tổ chức ra một ban, gọi là Ban Kiểm tra liên ngành đặc biệt, gồm đại diện của: Toà án nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát Tối cao, Bộ Tư pháp, Ban Bảo vệ Trung ương, Cục Bảo vệ Quân đội, Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính,... lên đến hơn 20 người. Ban Kiểm tra liên ngành đã làm việc và đã có một báo cáo- mà tôi được biết là dày đến 70 trang – hoàn thành trước Đại hội 10.

      Trước khi Đại hội 10 họp thì ông Tổng bí thư Nông Đức Mạnh cùng với Bộ Chính trị lúc đó có một sáng kiến là ỉm báo cáo này đi. Họ cho là báo cáo này nguy hiểm quá. Nếu trong Đảng và nhân dân được biết thì có thể tạo ra sự đảo lộn rất lớn về chính trị. Ông ấy viện cớ là nếu phổ biến, trung ương mà biết, đại hội mà biết thì gia đình, bạn bè họ đều biết thì khó có thể giữ được bí mật. Cho nên ông Nông Đức Mạnh mới thuyết phục Bộ Chính trị, thuyết phục Ban Chấp hành Trung ương trước Đại hội 10 là không phổ biến báo cáo tuyệt mật đó.

      Ông ấy yêu cầu là do sự ổn định của chế độ, ổn định của Đảng, coi như Bộ Chính trị khoá trước đã xem và coi như đã giải quyết xong xuôi. Hủy báo cáo này đi, coi như báo cáo này không có.

      Vì sao những người có trách nhiệm xem xét, giải quyết các sai phạm xảy ra ở Tổng cục 2 đã quyết định như vậy mà câu chuyện về cơ quan này vẫn chưa kết thúc? Ông Bùi Tín giải thích: Vấn đề này không thể ỉm hoàn toàn được, bởi vì nó dai dẳng, bởi vì ngay trong Tổng cục 2 đã có những sĩ quan dũng cảm, có những sĩ quan trung thành với sự thật, trung thành với nhân dân, thấy những việc làm bậy quá nên tiếp tục tố cáo. Trong đó có hai ông là ông Vũ Minh Ngọc và ông Vũ Minh Trí. Ngay từ năm 2005, ông Vũ Minh Ngọc đã có một lá thư gọi là “Thất trảm sớ”, nêu lên 7 tên rất nguy hiểm, cần phải gạt bỏ mới có thể cứu được Đảng, cứu được chế độ. Sau đó, ông Vũ Minh Ngọc viết thư thứ hai và cũng gửi cho cả tướng Giáp. Tướng Giáp rất ủng hộ ý kiến: Phải giải quyết triệt để vụ án siêu nghiêm trọng của Tổng cục 2. Năm nay, thư của ông Vũ Minh Trí hâm lại vụ này và tướng Giáp lại lên tiếng ủng hộ một lần nữa.

      Người gửi “Thất trảm sớ” – Trung tá Vũ Minh Ngọc hiện nay thế nào? Tâm trạng cũng như suy nghĩ của một số cán bộ lão thành cách mạng sau khi Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương khoá 9 quyết định ém nhẹm vụ Tổng cục 2 ra sao? Đó sẽ là nội dung bài thứ ba. Mời qúy vị đón nghe.

      Xóa
    4. 3
      Tâm trạng cũng như suy nghĩ của một số cán bộ lão thành cách mạng sau khi Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương khoá 9 quyết định ém nhẹm vụ Tổng cục 2 ra sao?

      Trong hai bài trước, Trân Văn đã tổng hợp và tường trình về những nội dung có liên quan đến các sai phạm nghiêm trọng xảy ra tại Tổng cục 2, cũng như lối xử lý hết sức khó hiểu của lãnh đạo Đảng CSVN đối với Tổng cục 2.
      Ở bài này, Trân Văn phỏng vấn một số nhân vật có liên quan hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp đến việc tố cáo các sai phạm tại Tổng cục 2.



      Chờ đợi cho đến chết
      Đến nay, hầu hết những người từng lên tiếng yêu cầu xem xét, xử lý các sai phạm ở Tổng cục 2, trong giai đoạn từ cuối thập niên 1990, đầu thập niên 2000 đến năm 2005 như: ông Phạm Văn Xô, Đại tướng Chu Huy Mân, Thượng tướng Lê Ngọc Hiền, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, Trung tướng Đồng Văn Cống, Trung tướng Nguyễn Hoà,... đều đã qua đời, phần lớn những người còn lại thì già yếu, bệnh tật.

      Chúng tôi đã thử gọi điện thoại, phỏng vấn một số người để xin thêm ý kiến của họ về vụ Tổng cục 2, cũng như suy nghĩ, thái độ của họ về cách xử lý vụ này của lãnh đạo Đảng CSVN.

      Cuộc phỏng vấn đầu tiên được thực hiện với cựu Trung tá Vũ Minh Ngọc – nhân vật đã từng gửi “Thất trảm sớ”. Người nhấc điện thoại là vợ cựu Trung tá Vũ Minh Ngọc, bà cho biết: Bây giờ ông cháu đang bị bệnh cho nên trí nhớ không tốt lắm nhưng mà thôi cũng để ông cháu gặp cho nó khuây khỏa... Có người gọi có phải bác Ngọc không và muốn hỏi chuyện... Đây ông nghe...

      Tuy đang trong tình trạng bán thân bất toại kèm nhiều chứng bệnh khác, sức khoẻ rất kém, song khi nghe đề cập đến Tổng cục 2, cựu Trung tá Vũ Minh Ngọc, 82 tuổi vẫn cố gắng xác nhận với chúng tôi qua một cuộc trao đổi ngắn:

      Trân Văn: Sau khi bác gửi thư, đến nay có hồi báo gì không ạ?

      Trung tá Vũ Minh Ngọc: Chưa có hồi âm gì ạ.

      Trân Văn: Từ khi bác gửi thư, các cơ quan chức năng có cử người đến hỏi thăm thêm về những nội dung trong thư không?

      Trung tá Vũ Minh Ngọc: Không ạ!

      Trân Văn: Hiện nay, vụ Tổng cục 2 cũng vẫn cứ còn như cũ phải không ạ?

      Trung tá Vũ Minh Ngọc: Vâng!

      Cuộc phỏng vấn thứ hai, theo dự tính sẽ thực hiện với ông Nguyễn Văn Thi, vẫn được gọi là Năm Thi, Chủ nhiệm Hậu cần Bộ Tư lệnh Miền giai đoạn trước tháng 4 năm 1975, có 69 tuổi Đảng, người mà từ năm 1986 đã gửi sáu lá thư yêu cầu lãnh đạo Đảng CSVN giải quyết hàng loạt vấn nạn trong Đảng, trong đó có vụ Tổng cục 2.

      Đến tháng 2 năm 2006, ông Nguyễn Văn Thi tiếp tục gửi lá thư thứ 7, trực tiếp phê bình Tổng Bí thư, các Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương khoá 9 vì đã hành xử không dân chủ với ông cũng như những đảng viên khác đã từng gửi các thư tương tự.

      Tuy nhiên chúng tôi không thể trò chuyện với ông. Vợ ông giải thích: Nhà tôi bịnh nặng lắm, đang nằm nhà thương anh ạ! Đúng ra là ổng không còn tỉnh. Anh hỏi... nó, nó quá muộn rồi. Vấn đề đó anh đừng hỏi nữa vì những vấn đề có liên quan đến ông Cống, ông Xô này kia nọ...

      Nói chung là người ta đã làm đền thờ ông Đồng Văn Cống này kia nọ rồi... Nói chung, tôi chỉ mong rằng đừng có ai nói thêm về những việc như thế và cũng hổng muốn nghe, cũng hổng được rảnh tâm lắm.

      Dù Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá 9, đã từng xác định đóng lại vụ Tổng cục 2 song trong lá thư thứ 7, ghi ngày 3 tháng 2 năm 2006, gửi Hội nghị Trung ương lần thứ 14, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá 9, ông Nguyễn Văn Thi vẫn tiếp tục khẳng định:

      Trách nhiệm đó trước hết thuộc về người đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư, đến Bộ Chính trị mà tôi và nhiều Đảng viên trong cả nước cho rằng, Trung ương Đảng khoá 9 đã tiếp tục duy trì ảnh hưởng của hai ông Đỗ Mười và Lê Đức Anh vì nể nang hoặc cố tình để bảo vệ chức danh do nhờ hai ông này mà có được.

      Xóa
    5. Không đưa ra giải quyết các vụ án này là che giấu khuyết điểm của Trung ương 9 đã tiếp tục kéo dài từ khoá 4 đến nay để bảo vệ quyền lợi cá nhân của một số người, bất chấp uy tín của toàn Đảng và tiếp tục không muốn đổi mới để cải cách hệ thống chính trị và quản lý Nhà nước, không muốn thay đổi nhân sự lãnh đạo Trung ương Đảng bằng những người trong sạch, có đức, có tài, có uy tín trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân.

      Hậu quả sẽ là Đảng viên chân chính cả nước sẽ tiếp tục đấu tranh để chỉ rõ trách nhiệm thuộc về Ban Chấp hành khoá 9 mà người đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư.

      Vẫn đòi làm rõ
      Thực tế cho thấy, điều ông Nguyễn Văn Thi khẳng định hoàn toàn chính xác. Ngày 16 tháng 12 năm 2008, Trung tá Vũ Minh Trí, đang làm việc tại Tổng cục 2 đã gửi một lá thư dài 13.000 chữ, khẳng định, Tổng cục 2 hiện làm cho “quân đội ta, Đảng ta, Nhà nước ta đang gặp phải hiểm họa vô cùng to lớn ngay từ bên trong, ngay ở bên trên”, cơ quan này hiện “khủng hoảng trầm trọng và toàn diện về lý luận, tư duy nghiệp vụ, phương châm, phương pháp, thủ đoạn, nề nếp, chế độ công tác, tổ chức lực lượng…”.

      Theo Trung tá Trí, ngoài ông Nguyễn Chí Vịnh, trung tướng, Tổng cục trưởng, từng bị Đại học Kỹ thuật Quân sự đuổi học khi còn là sinh viên sĩ quan vì hạnh kiểm kém, Tổng cục 2 đang là nơi dung dưỡng nhiều người thiếu kinh nghiệm, kiến thức, tư cách, thậm chí có tiền án, ham danh, hám lợi, song vẫn thăng tiến rất nhanh cả về cấp bậc lẫn chức vụ bởi là thân nhân, thân hữu, hoặc là thủ túc của ông Nguyễn Chí Vịnh.

      Trong thư, Trung tá Trí viết: Chúng làm điệp báo nhưng không tổ chức xây dựng điệp viên, tình báo viên mà nghĩ ra khái niệm “cán bộ mật”, “cán bộ diện B” để đưa từ bên ngoài quân đội vào tổ chức điệp báo hàng ngàn người mà nếu xét theo nguyên tắc, yêu cầu của điệp báo chiến lược thì hoàn toàn không có khả năng điệp báo (đặc biệt là về mặt quân sự). Phần lớn số này là người thân quen của chúng.

      Với các “cộng tác viên mật” cũng có tình trạng tương tự. Điều kỳ lạ là trong số “cán bộ mật”, “cộng tác viên mật” đó, có rất nhiều người đang làm việc trong các cơ quan quân – dân – chính – đảng của ta, một số người còn là cán bộ cấp cục –vụ – viện trở lên. Trên khắp thế giới, từ xưa tới nay, chỉ có chúng làm điệp báo chiến lược mà không xây dựng điệp viên, tình báo viên.

      Chúng dùng tổ chức và hoạt động điệp báo làm bình phong, dùng kế hoạch điệp báo làm công cụ chủ yếu để bòn rút công quỹ. Có thể khẳng định trong 10 năm trở lại đây, tất cả các kế hoạch điệp báo có mức kinh phí đáng kể của Tổng cục 2 đều ít nhiều mắc sai phạm về mặt kinh tế, tài chính.

      Nếu thanh tra, kiểm tra, kiểm toán một cách chặt chẽ, chắc chắn sẽ phát hiện ra nhiều vụ tham nhũng lớn, nhiều tên tham nhũng lớn.

      Thư của Trung tá Vũ Minh Trí còn nhiều nội dung đáng chú ý khác và người “hâm” lại vụ Tổng cục 2 – Trung tá Vũ Minh Trí nói gì với Đài Á Châu Tự Do? Mời quý vị xem bài 4.

      Xóa
    6. 4
      Trong ba buổi phát thanh trước, quý vị đã nghe Trân Văn tường trình về một số vấn đề liên quan đến Tổng cục 2 mà nhiều công thần của Đảng CSVN, cũng như hàng chục tướng lĩnh của cả Quân đội Nhân dân Việt Nam lẫn Công an Nhân dân Việt Nam cùng nhận định là “sai phạm siêu nghiêm trọng”, cần xử lý triệt để, song cuối cùng vẫn bị lãnh đạo Đảng CSVN làm ngơ.

      Quý vị cũng đã nghe một số nhân vật nhắc đến Trung tá Vũ Minh Trí, sĩ quan Tổng cục 2, tác giả lá thư ghi ngày 16 tháng 12 năm 2008, được xem như tác nhân “hâm” lại một scandal từng bị nhấn chìm. Vừa rồi, lá thư này đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhắc đến để lập lại yêu cầu lãnh đạo Đảng và Nhà nước kiên quyết xử lý vụ Tổng cục 2.

      Bây giờ, mời quý vị tiếp tục nghe Trân Văn giới thiệu các nội dung đáng quan tâm trong thư của Trung tá Vũ Minh Trí và cuộc trao đổi ngắn giữa Trân Văn và trung tá này...

      Hồi đầu tháng này, các diễn đàn điện tử công bố hai lá thư do Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết cách nay hai tháng. Trong cả hai thư, tướng Võ Nguyên Giáp cùng cho biết lý do viết thư là vì đã nhận và đọc thư của Trung tá Vũ Minh Trí.



      Lề lối lãnh đạo
      Ở thư đầu, ghi ngày 8 tháng 6, gửi cho hai cựu Tổng Bí thư là ông Đỗ Mười và ông Lê Khả Phiêu, tướng Giáp cho rằng: “Các anh phải thống nhất độ quan trọng của vấn đề và góp phần cùng Bộ Chính trị và Trung ương giải quyết bằng được”.

      Sang thư sau, ghi ngày 10 tháng 6, gửi các thành viên trong Bộ Chính trị và Ban Bí thư, tướng Giáp thẳng thắn nêu thắc mắc về lối mà lãnh đạo Đảng và chính phủ hiện nay sử dụng ông Nguyễn Chí Vịnh, sau hàng loạt sai phạm được xem là “siêu nghiêm trọng”: “Đồng chí Nông Ðức Mạnh nói với tôi là (NV: ông Nguyễn Chí Vịnh) không thể lên trung tướng và chưa biết đưa đi đâu để rèn luyện nhưng thực tế lại không làm như vậy mà tiếp tục thăng quân hàm và giao trọng trách Tổng cục trưởng, hiện nay vừa đề bạt là Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng làm cho ai cũng ngạc nhiên, lo lắng và nếu không làm rõ thì chắc sẽ còn lên nữa”.



      Lũng đoạn, phá hoại
      Trong bài trước chúng tôi đã giới thiệu một phần nội dung thư tố cáo của Trung tá Vũ Minh Trí, đó là việc ông Nguyễn Chí Vịnh thu nạp thân nhân, thân hữu, tập hợp thủ túc để lũng đoạn Tổng cục 2 và bòn rút công quỹ. Tuy nhiên ông Nguyễn Chí Vịnh và các “chiến hữu” của ông ta còn làm những gì để sau khi đọc thư của Trung tá Trí, tướng Giáp phải lên tiếng cảnh báo: “Tình hình đang cực kỳ nguy hiểm đối với Quân đội, đối với Đảng”?

      Trong thư ghi ngày 16 tháng 12 năm 2008, Trung tá Vũ Minh Trí kể rằng, ông Nguyễn Chí Vịnh và “phe lũ” đã “lừa dối cấp trên”, gửi nhiều “tin tình báo” không khẳng định được độ xác thực của nội dung thông tin, chiếm tỷ lệ lớn nhất và gây tác hại nhiều nhất là “tin về nội bộ”, gây nên sự nghi kỵ, rối ren. Rất nhiều thông tin là do thêm thắt, ngụy tạo nhằm vu cáo, bôi nhọ, lật đổ.”

      Cũng theo Trung tá Trí, Tổng cục 2 đã thu thập, tạo dựng thông tin về hàng ngàn cán bộ quân – dân – chính đảng, trong đó có hàng trăm người từ cấp ủy viên trung ương trở lên, không ít người đang là viên chức cao cấp của Đảng như ông Trương Tấn Sang, Ủy viên Thường trực Bộ Chính trị, của chính phủ như hai phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm, Hoàng Trung Hải, một số bộ trưởng, thứ trưởng, kể cả hai thứ trưởng Bộ Công an là các ông Nguyễn Văn Hưởng, ông Nguyễn Khánh Toàn. Rồi bí thư các tỉnh, các thành phố lớn như ông Lê Thanh Hải (TP.HCM), ông Nguyễn Bá Thanh (thành phố Đà Nẵng)...

      Dù Tổng cục 2 đã tạo ra vô số rắc rối trong quá khứ vì theo dõi, thu thập rồi ngụy tạo thông tin, thế nhưng tình trạng này vẫn tái diễn, Trung tá Trí tiết lộ: “Gần đây Nguyễn Chí Vịnh giao cho một cơ quan trực thuộc Tổng cục trưởng Tổng cục 2 nhiệm vụ tổ chức thu thập thông tin, lập hồ sơ về nhiều cán bộ cấp cao ngoài Tổng cục 2 trong khi Tổng cục 2 không hề có chức năng, nhiệm vụ bảo vệ an ninh, bảo vệ chính trị nội bộ, thanh tra, kiểm tra Đảng đối với các tổ chức, cá nhân bên ngoài Tổng cục 2”.

      Xóa
    7. Cũng vì vậy, Trung tá Trí nhận định: Chính Nguyễn Chí Vịnh và phe lũ mới phá hoại Tổng cục 2 toàn diện nhất, triệt để nhất. Trước sự phá hoại ghê gớm của chúng, trước thực trạng bi đát của Tổng cục 2 hiện nay, có người nêu câu hỏi: Phải chăng chúng là “điệp viên ảnh hưởng” của các thế lực thù địch? Đánh giá như vậy về Nguyễn Chí Vịnh và phe lũ có quá mức không?... Hoàn toàn không nếu đã đọc hàng loạt tin tức, tài liệu mà trong đó Tổng cục 2 nhận định: Nguyễn Mạnh Cầm, Phan Diễn, Trần Bạch Đằng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Nam Khánh, Trương Tấn Sang, Võ Viết Thanh, Phan Văn Trang, Nguyễn Ngọc Trừu,... là có yếu tố địch. Hoàn toàn không nếu đánh giá thực trạng Tổng cục 2 hiện nay một cách khách quan, chặt chẽ theo đúng yêu cầu của việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ.

      Thư của Trung tá Vũ Minh Trí còn cung cấp nhiều chi tiết khác được xem là hết sức nhạy cảm như sự hỗ trợ đặc biệt mà các ông Lê Đức Anh – cựu Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương, Nông Đức Mạnh – Tổng Bí thư đương nhiệm, Phạm Văn Trà – cựu Bộ trưởng Quốc Phòng, Nguyễn Huy Hiệu – hiện là Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng, Lê Văn Dũng – hiện là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị,... dành riêng cho ông Nguyễn Chí Vịnh. Cũng vì vậy, trong thư ghi ngày 10 tháng 6, tướng Giáp yêu cầu Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương “cần chú ý bảo vệ người tố cáo”.



      Trách nhiệm, dũng cảm
      Chúng tôi đã thực hiện một cuộc phỏng vấn ngắn với Trung tá Vũ Minh Trí, tác giả thư tố cáo ghi ngày 16 tháng 12 năm 2008:

      Trân Văn: Thưa ông, tôi được đọc thư của ông về vụ Tổng cục 2 và sau đó là thư của tướng Giáp, tôi muốn hỏi thăm ông về lá thư. Thưa ông, theo ông, với hiện tình của Tổng cục 2 như hiện nay, nó vi phạm những nguyên tắc nào trong tổ chức Quân đội Nhân dân Việt Nam ạ?

      Trung tá Vũ Minh Trí: Vâng! Thực ra tất cả những thư của tôi, tôi không gửi đến những địa chỉ bên ngoài ông ạ! Cho nên là những nội dung đấy, tôi cũng chỉ trao đổi với những cơ quan hay là những cá nhân có thẩm quyền thôi! Đấy là một, thứ hai là những chuyện này cũng không tiện trao đổi trên điện thoại, cho nên là rất cám ơn ông đã quan tâm nhưng mà xin ông cho kiếu được không ạ?

      Trân Văn: Dạ được ạ! Tôi hiểu! Chỉ xin hỏi thêm ông một vài câu.

      Trung tá Vũ Minh Trí: Dạ vâng, ông cứ hỏi ạ...

      Trân Văn: Thưa ông, cho đến nay, ông có gặp khó khăn từ đồng đội của mình không ạ? Nếu tôi không lầm thì có lẽ ông cũng làm việc trong Tổng cục 2?

      Trung tá Vũ Minh Trí: Ông ạ! Nếu đã gọi là đồng đội thì thật sự không gặp khó khăn gì. Nếu là đồng đội thì sẽ giúp đỡ mình thôi. Nếu thật sự là đồng đội của tôi đều rất là ủng hộ tôi, đều rất là giúp đỡ tôi, ông ạ!

      Trân Văn: Dạ, trong thư của tướng Giáp, tướng Giáp có nhắc trực tiếp đến ông và tướng Giáp cho rằng, việc mà ông đã làm là việc làm của một người có trách nhiệm cao, dũng cảm. Tôi nghĩ có lẽ là nội tình hết sức phức tạp thì tướng Giáp mới đưa ra nhận định như thế, thành ra tôi muốn hỏi thăm thêm những diễn biến sau việc ông gửi lá thư ghi ngày 16 tháng 12 năm 2008 đi...

      Trung tá Vũ Minh Trí: Thực ra để làm đến nơi, đến chốn việc nào, kể cả việc nhỏ cũng đều là phức tạp. Tôi cũng chưa được đọc thư của đại tướng Võ Nguyên Giáp. Nếu quả thực đại tướng đánh giá như vậy thì tôi thấy cũng hơi ngượng bởi vì mình cũng chưa được như vậy đâu ông ạ!

      Vì sao Tổng cục 2 có thể “lợi dụng tính chất hết sức chuyên biệt của tình báo để mưu cầu lợi riêng, bất chính” như Trung tá Vũ Minh Trí nhận xét trong hàng chục năm mà vẫn vô sự? Điều đó có lợi cho ai? Chúng tôi sẽ tổng hợp và tường trình trong bài cuối. Mời quý vị đón nghe

      Xóa
    8. 5
      Trong bốn bài của loạt bài “Cơ quan Tình báo Quân đội Việt Nam: Những dấu hiệu của một đại họa”, Trân Văn đã tóm tắt và tường trình về hàng loạt vấn đề được các công thần, tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp của Quân đội, Công an Việt Nam xác định là “sai phạm nghiêm trọng”, xảy ra tại Tổng cục 2 như: lũng đoạn cơ quan tình báo quân đội, bòn rút công quỹ, theo dõi – thu thập thông tin rồi bịa đặt, vu cáo nhiều viên chức lãnh đạo Đảng và chính quyền, gây nghi kỵ, chia rẽ trong nội bộ,...

      Đáng chú ý là sau hàng chục năm, những “sai phạm nghiêm trọng” đó vẫn không được xem xét, xử lý thấu đáo nên tiếp tục làm nội bộ Đảng, nội bộ chính quyền, nội bộ quân đội Việt Nam bị phân hóa trầm trọng. Cũng vì vậy, đã có khá nhiều người tự hỏi, có những ai đã và đang đứng phía sau vụ này (?).

      Trân Văn tiếp tục tổng hợp và tường trình bài thứ năm của loạt bài này...



      Ai đứng phía sau?
      Tuy không đưa ra câu trả lời cho câu hỏi, ai đã và đang đứng phía sau các “sai phạm nghiêm trọng” xảy ra ở Tổng cục 2 nhưng Trung tá Vũ Minh Trí, người viết lá thư tố cáo ghi ngày 16 tháng 12 năm 2008 đã cung cấp một số chi tiết, giúp người đọc tự tìm câu trả lời. Đó là: Thời gian qua, Tổng cục 2 bỏ qua tiêu chuẩn, thu hút, tiếp nhận con cháu rất nhiều cán bộ cấp cao của quân đội, Đảng, Nhà nước như: Lê Đức Anh, Lê Văn Dũng, Phùng Khắc Đăng, Nguyễn Huy Hiệu, Vũ Tuyên Hoàng, Bùi Văn Huấn, Nông Đức Mạnh, Phạm Hồng Lợi, Cao Tiến Phiếm, Nguyễn Hồng Quân, Phạm Văn Trà, Đỗ Quang Trung... vào đào tạo ở Học viện Khoa học Quân sự, làm việc trong Tổng cục 2 (việc mà thời trước hầu như không có).

      Cũng theo Trung tá Vũ Minh Trí: Không phải ngẫu nhiên mà trong Tổng cục 2 có nhiều ý kiến cho rằng, những năm qua, Nguyễn Chí Vịnh đã “qua mặt”, đã “lừa” được hầu hết lãnh đạo cấp cao của quân đội, Đảng, Nhà nước, thậm chí “bỏ túi” được các vị Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh, Phạm Văn Trà, Lê Văn Dũng, Nguyễn Huy Hiệu, Phạm Văn Long,...



      Vai trò Lê Đức Anh
      Nếu lật lại các tài liệu liên quan đến Tổng cục 2, có thể thấy trong hầu hết đơn, thư tố cáo, yêu cầu giải quyết vụ Tổng cục 2, hầu hết công thần cũng như tướng lĩnh cao cấp của chế độ đều cùng đề cập đến một người, giữ vai trò như cha đẻ Tổng cục 2, đồng thời là tổng đạo diễn các vụ việc được gọi là “siêu nghiêm trọng”. Đó là ông Lê Đức Anh.

      Ở lá thư viết ngày 17 tháng 6 năm 2004, Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh kể: Trước Đại hội 7 (NV: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa 7 có nhiệm kỳ từ 1991 đến 1996), tâm trạng cán bộ, cả phía Nam và phía Bắc có nhiều lo lắng, băn khoăn về nhân sự cấp cao của Đảng, nhiều cán bộ không vừa lòng một số đồng chí trong Bộ Chính trị Khóa 6. Nhiều ý kiến muốn thay đổi một số Ủy viên Bộ Chính trị. Trong đó dư luận tập trung không đồng tình đồng chí Lê Đức Anh... và trong thực tế, vụ Năm Châu - Sáu Sứ bùng lên ở thời điểm nhạy cảm đó, đã giúp ông Lê Đức Anh tiếp tục đảm nhiệm cương vị Ủy viên Bộ Chính trị.

      Tướng Nguyễn Nam Khánh kể tiếp: Trong khóa 7, đồng chí Lê Đức Anh được bầu vào Bộ Chính trị và sau đó được bầu làm Chủ tịch nước, phụ trách cả an ninh, quốc phòng và đối ngoại... Được sự chỉ đạo của đồng chí Lê Đức Anh, Pháp lệnh tình báo và Nghị định 96/CP đã được soạn thảo và chuyển qua Quốc hội và Chính phủ... Lợi dụng Nghị định 96/CP, Tổng cục 2 đã có sự lộng quyền nghiêm trọng, sự thao túng nghiêm trọng, phá hoại dân chủ và phá hoại đoàn kết nội bộ, gây chia rẽ và bè phái rất nghiêm trọng trong Đảng. Tổng cục 2 muốn vu khống ai thì vu khống, muốn trừng trị ai thì bày chuyện trừng trị, muốn gài người vào cơ quan nào thì gài, tổ chức kinh doanh tràn lan, lạm dụng các hoạt động gọi là “tình báo” để tiêu tiền, thậm chí tạo ra “cơ sở đặc tình” không có thật để tiêu tiền.

      Xóa
    9. Man trá lý lịch
      Tiểu sử cá nhân của ông Lê Đức Anh do Đảng và chính quyền Việt Nam công bố, cho biết, ông Lê Đức Anh là Ủy viên Bộ Chính trị trong bốn khóa liên tục, từ khóa 5 đến khóa 8, kéo dài từ 1982 đến 2001. Ông Lê Đức Anh từng là Tổng Tham mưu trưởng, Bộ trưởng Quốc Phòng, Chủ tịch Nhà nước. Năm 2008, ông được tặng huy hiêu “70 năm tuổi Đảng”.

      Tuy nhiên theo một thư tố cáo ghi ngày 3 tháng 2 năm 2005 của các ông Phạm Văn Xô (Hai Xô - một trong những lãnh đạo đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương, cựu Phó Ban Tổ chức Trung ương), ông Đồng Văn Cống (Bảy Cống - cựu Phó Tổng thanh tra Quân đội), ông Nguyễn Văn Thi (Năm Thi - cựu Chủ nhiệm Hậu cần Bộ Tư lệnh Miền) – những người từng là cấp trên của ông Lê Đức Anh thì ông Lê Đức Anh đã man khai cả lý lịch cá nhân, lẫn man khai tư cách Đảng viên: Lê Đức Anh không phải là công nhân cao su như tự khai trong lý lịch mà là người giúp việc thân cận cho chủ đồn điền De Lalant, một sĩ quan phòng nhì của Pháp... Cũng theo các ông này, ông Lê Đức Anh chưa bao giờ được kết nạp vào Đảng CSVN và họ cũng như một số cán bộ cách mạng lão thành khác ở miền Nam, đã lên tiếng tố cáo sự man trá này từ năm 1982.

      Trong thư đã dẫn, các ông Phạm Văn Xô, Đồng Văn Cống, Nguyễn Văn Thi nhận định: Theo chúng tôi thì những vụ việc nghiêm trọng, xảy ra trong hơn hai chục năm qua, từ Vụ Xiêm Riệp (1983), Sáu Sứ (1991), vụ nâng Cục 2 lên thành Tổng cục 2 với quyền hạn siêu Đảng, siêu Nhà nước, được hợp pháp hóa bằng Pháp lệnh tình báo của Quốc hội và Nghị định 96/CP, vụ T4 (1997-1999), đến vụ nói xấu, vu khống nhằm lật đổ Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu trước đại hội 9... đều có bàn tay của nhân vật từng hoạt động cách mạng và kháng chiến ở Nam Bộ mà chúng tôi đều biết rõ. Đó là nguyên cai đồn điền cao su, nguyên Chủ tịch nước, nguyên Cố vấn Lê Đức Anh.

      Tại một tài liệu khác là thư của ông Nguyễn Đức Tâm - cựu Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng, ghi ngày 3 tháng 1 năm 2001 – với tư cách là một trong những người đã từng nhận các đơn thư tố cáo - ông Tâm phân trần: Về thư đồng chí Năm Thi tố cáo đồng chí Lê Ðức Anh tôi đã trao đổi với anh Lê Ðức Thọ, anh Thọ có ý kiến đại thể như sau: Ðây chỉ là vấn đề cần quan tâm nhưng chưa đủ cơ sở để kết luận, sau này sẽ tiếp tục điều tra (lúc này cũng đang rối lên về nhân sự chủ chốt của Ðại hội 6). Sau Ðại hội 6, tôi cũng đặt ra vấn đề với anh Nguyễn Văn Linh nhưng anh Linh không giao trách nhiệm để tổ chức điều tra (lý do có thể rất phức tạp, tôi không dám viết ra đây, chỉ xin trực tiếp báo cáo với Bộ Chính trị hoặc Ủy Ban Kiểm tra Trung ương.

      Tên ông Lê Đức Anh không chỉ xuất hiện trong các thư, đơn tố cáo đòi xử lý triệt để vụ Tổng cục 2. Việc đối chiếu những tài liệu khác có thể góp phần lý giải câu hỏi, vì sao các sai phạm của Tổng cục 2, tuy kéo dài hơn một thập niên nhưng không thể xử lý. Mời quý vị đón nghe bài cuối.

      Xóa
    10. 6
      Trong năm bài của loạt bài “Cơ quan Tình báo quân đội Việt Nam và những dấu hiệu của một đại họa”, quý vị đã nghe nhiều ý kiến của các công thần cũng như tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp trong Đảng CSVN, trong chính quyền và trong quân đội cùng cảnh báo rằng, Tổng cục 2 đang làm cho tình hình trở thành cực kỳ nguy hiểm đối với quân đội, đối với Đảng.



      Sai phạm nghiêm trọng của Tổng cục 2
      Phải chăng sự nguy hiểm chỉ đe dọa quân đội và Đảng? Mời quý vị nghe Trân Văn tường trình bài cuối cùng và chúng tôi mong nhận thêm ý kiến phản hồi từ quý thính giả sau loạt bài này...

      Trong nhiều thư, đơn tố cáo, yêu cầu giải quyết những sai phạm nghiêm trọng tại Tổng cục 2 suốt từ thập niên 1990 đến nay, tên ông Lê Đức Anh được lập đi, lập lại khá nhiều lần.

      Đáng chú ý là tên của ông Lê Đức Anh không chỉ xuất hiện trong những tài liệu liên quan đến Tổng cục 2.

      Cũng vì vậy, việc đối chiếu một số tài liệu khác có thể góp phần lý giải câu hỏi, vì sao các sai phạm của Tổng cục 2, tuy kéo dài hơn một thập niên, gây bất bình sâu rộng nơi cán bộ, đảng viên cả trong, lẫn ngoài quân đội nhưng vẫn không thể xử lý đến nơi, đến chốn.

      Ở hồi ký “Hồi ức và suy nghĩ” của ông Trần Quang Cơ, cựu Thứ trưởng Ngoại giao, ông Trần Quang Cơ đã từng kể như thế này về ông Lê Đức Anh, trong phần tường thuật về “Đại hội 7 và cái giá phải trả cho việc bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc”:

      Sau Ðại hội 7, mọi vấn đề quan trọng về đối ngoại của Nhà nước đều do Hồng Hà, Bí thư Trung ương, phụ trách đối ngoại, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Lê Ðức Anh và tất nhiên được sự tán thưởng của Tổng Bí thu Ðỗ Mười, quyết định. Những phần công việc vốn do Bộ Ngoại giao đảm nhiệm nay đều do Hồng Hà và Ban Ðối ngoại chủ trì. Một thí dụ điển hình về việc vì ý đồ cá nhân họ sẵn sàng bỏ qua danh dự và quốc thể:

      Ngày 5 tháng 8 năm 1991, tại cuộc họp Hội đồng Bộ trưởng, Hồng Hà tuyên bố: “Từ nay trong quan hệ với Trung Quốc các ngành cứ tập trung ở chỗ anh Trương Ðức Duy (Ðại sứ Trung Quốc), không cần qua sứ quán Việt Nam ở Bắc Kinh”. Lê Ðức Anh cho biết khi ở Trung Quốc, Phó ban Ðối ngoại Trung Quốc Chu Lương có đề nghị: “Vì lý do kỹ thuật, quan hệ giữa hai Ðảng xin làm qua Trương Ðức Duy”.

      Hoặc thế này: Ðể dọn đường cho cuộc gặp cấp thứ trưởng ở Bắc Kinh tháng 8 năm 1991, tối 31 tháng 7 Hồng Hà đảm bảo với Từ Ðôn Tín: "Ðồng chí Lê Ðức Anh và tôi sẽ làm việc trực tiếp với thứ trưởng Nguyễn Dy Niên (người được chỉ định đi đàm phán với Trung Quốc chỉ vì chưa có “tiền sự” với Trung Quốc) trước khi đồng chí ấy đi Trung Quốc. Chúng tôi phải báo cáo với Bộ Chính trị để có ý kiến chỉ đạo không những về nội dung mà cả về tinh thần và thái độ làm việc.

      Tinh thần của chúng tôi là phấn đấu làm cho cuộc gặp thành công”. Sau khi đã cam kết từ nay không nói đến vấn đề diệt chủng nữa, Hồng Hà hỏi Từ: “Tôi muốn hỏi đồng chí ngoài vấn đề diệt chủng, còn hai vấn đề gai góc là vấn đề quân đội các bên Campuchia và vai trò Liên Hiệp Quốc thì phương hướng giải quyết nên thế nào, để chúng tôi có thể góp phần làm cho cuộc gặp thứ trưởng Việt - Trung ở Bắc Kinh sắp tới đạt kết quả tốt”.


      Một thái độ ươn hèn, yếu đuối
      Ông Trần Quang Cơ than: Xin ý kiến đối phương và hướng giải quyết vấn đề để đàm phán trước khi đàm phán, thật là chuyện có một không hai trong lịch sử đối ngoại!...

      Trở lại với nội dung chính của loạt bài này, liệu lần này, vụ Tổng cục 2 và những “sai phạm nghiêm trọng” ở cơ quan này sẽ được giải quyết dứt điểm? Ông Bùi Tín nhận định: Tất cả mọi vấn đề quy chiếu vào mối quan hệ với Trung Quốc, trong đó nổi bật là thái độ yếu đuối, có thể nói là ươn hèn và phụ thuộc.

      Ngay từ năm 1991, ông Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch cũng là Ủy viên Bộ Chính trị đã phải kêu lên là chúng ta lại bước vào thời kỳ Bắc thuộc mới. Chính do những nhận định như thế của Nguyễn Cơ Thạch mà Bắc Kinh yêu cầu Bộ Chính trị phải gạt ngay ông Nguyễn Cơ Thạch ra. Đúng là sau đó, Nguyễn Cơ Thạch bị mất chức.

      Xóa
    11. Tôi nghĩ đấy là một biểu hiện rất rõ, từ vấn đề bauxite, vấn đề Tổng cục 2, vấn đề mất đất, mất biển, vấn đề tàn sát ngư dân đều quy chiếu vào mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc.

      Thái độ của Bộ Chính trị hiện nay là một thái độ ươn hèn, yếu đuối. Bởi vì họ nghĩ rằng, muốn tồn tại thì phải dựa vào Trung Quốc, bởi vì họ cho rằng Việt Nam và Trung Quốc cùng theo chủ nghĩa Mác – Lê Nin, cùng chung chế độ độc đảng, họ nghĩ rằng Trung Quốc lớn như thế thì khó mà có thể chìm, do đó mà bám lấy cái phao này.

      Tôi nghĩ là họ đã tính lầm bởi tinh thần tự chủ của dân tộc Việt Nam mạnh lắm. Tôi nghĩ là nhân dân mình đã thức tỉnh. Do đó trong tình hình mới, tôi nghĩ là họ khó có thể bịt được vụ Tổng cục 2.



      Sư lớn mạnh của các đoàn “tình báo hành động”
      Đó là hy vọng của một số người, còn đây là thực tế được một người trong cuộc, Trung tá Vũ Minh Trí tường thuật tại thư ghi ngày 16 tháng 12 năm 2008: Nhiều người ở Tổng cục 2 rất lo ngại khi thấy giữa thời bình, khả năng xảy ra chiến tranh đã được Đảng nhận định qua mấy kỳ đại hội là không có mà Nguyễn Chí Vịnh và phe lũ lại xây dựng lực lượng trinh sát bộ đội nằm trong đội hình Cục quân báo rồi Cục tình báo vốn chỉ ở cấp tiểu đoàn thời chống Pháp, chống Mỹ, cấp trung đoàn thời chiến tranh hai đầu biên giới phía Bắc và phía Tây Nam lên thành 3 đoàn “tình báo hành động” là: K3,74,94.

      Cả ba đều có quy mô cấp lữ đoàn (đoàn trưởng được thăng quân hàm tới đại tá), đều do tay chân thân tín nhất của Nguyễn Chí Vịnh nắm, đều đóng ở các đô thị lớn bậc nhất của đất nước, đều triển khai nhiều hoạt động điệp báo và đều được trang bị các vũ khí, trang thiết bị đặc chủng, trong đó có mấy chục xe thiết giáp.

      Họ tự hỏi “tình báo hành động” thực chất là gì? Tại sao các đoàn “tình báo hành động” đó lại có quy mô lớn như vậy trong khi quy mô lực lượng trinh sát bộ đội của các quân khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng chỉ ở cấp tiểu đoàn? Chúng nhằm vào đối tượng tác chiến nào? Rõ ràng lo ngại của họ không phải là vô cớ.

      Trong thư ghi ngày 10 tháng 6 năm nay, gửi Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, tướng Giáp yêu cầu xem xét vụ Tổng cục 2 và “có chủ trương giải quyết những sai trái một cách kiên quyết, triệt để, đúng nguyên tắc” không chỉ “để bảo vệ quân đội, bảo vệ Đảng” mà còn nhằm “bảo vệ độc lập tự chủ của đất nước”.

      “Bảo vệ độc lập tự chủ của đất nước” cũng là ý đã được ông nhắc tới khi yêu cầu xem xét những chủ trương liên quan đến bauxite cách nay vài tháng.

      Trân Văn
      Phóng viên RFA

      Xóa
  18. PHẢN HỒI:

    Hiện tượng đa số người dân, cựu binh, đảng viên già 'khóc thương' tướng Giáp chẳng qua là sự phản ứng tự nhiên, nói lên nổi tuyệt vọng tột cùng của người dân trước sự ù lỳ, tàn ác của bộ ba Trọng, Sang, Dũng. Họ đã quá chán ngán bọn càm quyền hiện nay nên đành phải biểu tỏ một cách vô thức lòng tiếc thương vị tướng già như một người CS 'chân chính' cuối cùng còn sót lại. Người dân cũng biết rằng N.T.Dũng không ưa gì phản ứng của tướng Giáp với hắn về vụ cho khoảng 10 sư đoàn dân binh Trung Quốc vào VN đóng chiếm vùng Tây Nguyên và vùng cận hải, việc cho thành lập các 'China Town', cho thuê rừng dài hạn, v.v.

    Dũng không hề là tay quân tử rộng lòng cho tiến hành nghi thức quốc tang một viên tướng đã 'vô nguyên giáp' từ lâu, đáng lý ra tướng Giáp phải được phong hàm Nguyên Soái trước khi mất nhưng đề nghị này đã bị bác bỏ. Trên thực tế, cái gọi là bộ chính trị đã 'delay' cái chết của tướng Giáp, một việc mà BBC, một đài mà ban biên tập VN có tiếng là 'thân' Hà Nội đã 'chọc quê' thủ Dũng là đã cho tướng Giáp "sống thêm vài ngày"

    Nói tóm lại, bọn độc tài đảng trị Ba Đình đừng thấy dân thương tiếc tướng Giáp mà tưởng bở là lòng dân còn yêu thương cái chế độ thối nát mục ruỗng này! Người dân đang mắng chữi các ngươi bằng cách yêu thương và kính trọng một con người 'chân chính' CUỐI CÙNG!!!

    @Bóng Ma Trên Công Trường Đỏ

    Trả lờiXóa
  19. Cú Lừa ngoạn mục nhất 2 Thiên Niên Kỷ!!!

    Việc cho 10 sư đoàn dân binh Trung Quốc 'giả vờ' khai thác bô xít đóng dọc theo Tây Nguyên và các vùng cận hải, những nơi mà các nhà chiến lược mọi thời đại đều biết rằng hể ai chiếm nó thì khống chế nguyên cả VN! Những nơi mà tướng Giáp và các tướng VC khác đã hết sức 'lận đận thân già', gữi tâm thơ đến ngài thủ tướn để can ngăn. Nhưng tất cả chỉ là sự im lặng, để trả lời cho các 'lão già' lẩm cẩm gần đất xa trời này!

    Điều bí ẩn ở đây là gì? Tại sao tay mặt thì tiêu tốn hàng tỹ đô để lo mua tàu ngầm, tàu tuần tra biển, phi cơ,v.v. chứng tỏ là lo gìn giữ biển đảo ghê lắm? Trong khi tay trái thì khư khư dẫn 10 sư đoàn dân binh Tàu khựa vào bố trí vùng Địa Chiến Lược xung hiễm nhất của VN? Tại sao trống thì đánh xuôi? Mà kèn lại thổi ngược??? tựa như mồm bố thĩ kêu gọi động viên con cái lo gìn giữ mấy cây chanh cây ổi bên hè, trong khi lủ kẻ cướp đã vào tận nhà trong chè chén cùng bố. Tại sao?

    Xin Thưa: Các nhà chiến lược thuộc 16 con ma bộ chính trị Ba Đình cận đại này đã xữ dụng trống kèn bài bản nhịp nhàng lắm, hơn đứt mấy vị tướng già lẩm cẩm nhiều, chứ không mâu thuẩn xuôi ngược gì đâu:

    1/ Hoàng Sa trên thực tế chỉ còn ở trong mơ mà thôi! Đợi thủ Dũng đòi (bằng cách xữ dụng 16 chữ vàng và 4 tốt) nghe quá mệt!

    2/ Còn mấy mỏm đá khi chìm, khi nổi và vài cái nhà giàn dành để gạt dân mà thôi.

    3/ Cho Tàu khựa đóng quân dọc duyên hải và Tây Nguyên là để phòng ngừa đám cá thù nghịch số 7 như cá mập, cá voi, cá nhà táng lội vào đổ bộ bất tử khi có bạo loạn, hay 'thế chiến khu vực' phòng ngừa nguy cơ bị chia cắt, tái lập VNCH, đòi thi hành HĐ Paris! Tóm lại, cho Tàu khựa giữ tuyến xương sống hiễm yếu này chính là để giữ đảng!!! (quan trọng hơn giữ nước!)

    4/ Phía Bắc, núi liền núi, sông liền sông, gì chớ cở 1000 xe tăng Tàu ùa qua thì không phải là chuyện khó khi cần cứu đảng (CSVN).

    5/ Chuyện Liên Bang ( Hiệp Ước Thành Đô) không còn là chuyện nghi vấn có, hay không! mà đã là chuyện khi nào?

    6/ Hầu hết giới siêu đại gia và đại gia trong nước đã và ĐANG âm thầm chuyển tài sản và con cái sang Mỹ và các nước tự do khác để giử thế chân trong chân ngoài. Tại sao? chắc không khó tìm câu trả lời.

    @NgườiNgheLóm

    Trả lờiXóa
  20. Anh Đặng Chí Hùng đã nói khá đủ về ông Lê Đức Anh, lãnh đạo tiêu biểu như bao lãnh đạo khác của VN. Giờ thử lấy trường hợp tướng Võ Nguyên Giáp như là một hình ảnh tốt nhất của người CSVN và thử phân tích ông VNG là người tài đức như thế nào, trách nhiệm ông đối với dân tộc ra sao, công tội thế nào, dù rằng mỗi một người trong chúng ta, không trừ một ai, đều có trách nhiệm với hiện trạng nguy khốn của đất nước, vì chúng ta như thế nào thì xã hội hay đất nước sẽ như thế ấy. Ước vọng của tướng VNG là đạt cho bằng được mục tiêu mà không cần suy xét hành động cũng như phương tiện của mình thì sau cùng đã làm chiến công của ông trỡ thành vô ích và thậm chí đem lại những hậu quả vô cùng tai hại và lâu dài như chúng ta đã thấy. Phương tiện và mục đích không phải là hai trạng thái khác biệt mà là một tiến trình duy nhất. Phương tiện chính là kết quả vì nếu chúng ta dùng phương tiện đúng thì kết quả sẽ tốt, đó là lẽ tự nhiên, dù vật chất hay tinh thần. Ông đã không quan tâm tới mạng người, chỉ hy vọng sẽ đạt được chiến thắng, do đó ông đã sai lầm phân nửa trong phương pháp, nhất là về phương diện đạo đức. Nhưng phương pháp sẽ quyết định kết quả tối hậu, hiện trạng Việt Nam ngày nay như thế nào mọi người đều rõ. Một Hitler, Napoleon, Thành Cát Tư Hản hay Mao Trạch Đông v.v... đều là những nhân vật tài ba nhưng họ có đạo đức không? Hành động và kết quả họ mang lại cho nhân loại như thế nào ai cũng rõ hay đều đoán được. Cũng vậy, nếu chúng ta thực sự muốn sống hoà bình, chúng ta phải xử dụng phương tiện hay hành xử một cách hoà bình. Đối với người CS, phương tiện tối yếu của họ là bạo lực, từ đó họ đã mang lại bao lầm than khổ nạn cho nhân loại. Họ có thể đạt được mục đích họ muốn, khó ai có thể đánh bại được họ, nhưng thành công của họ chỉ nhất thời và theo lẽ tự nhiên họ sẽ tự diệt vong như lịch sử đã chứng minh, như ý nghĩa đơn sơ nhưng đầy bí hiểm "Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên" đã chứng minh. Do đó phương tiện quan trọng hơn mục đích rất nhiều, đó là điều không thể chối cải, và dĩ nhiên không phải là cái 'không thể chối cải' của người CS Trung Quốc.

    @HocTroNgheo

    Trả lờiXóa
  21. Năm 1991 sắp đại hội TƯ7, Lê đức Anh đang là bộ trưởng quốc phòng, muốn dòm ngó chức chức CT/ nước kiêm TBT/đảng để gọn gói bán nước cho Tàu. Nên đã cùng Nguyễn chí Vịnh (TC 2) và Đỗ Mười dựng nên vụ Sáu Sứ còn gọi là vụ Năm Châu.

    Mượn bàn tay của TC 2 bố trí 1 số đảng viên lâu năm ở miền Nam là Năm Châu và Sáu Sứ ra Hà Nội, mục đích để gặp gỡ và giăng bẫy Võ nguyên Giáp, rồi từ đó kết luận VNG bè phái tham quyền, có ý đồ tập trung 1 số tay chân của mình để lật đổ BCT đảng và chính quyền hồi đó. LĐA và đồng bọn cho rằng Giáp có ý định dành chức TBT đảng và được tướng Trần văn Trà tiếp sức để Trà dành chức bộ trưởng quốc phòng.

    @Hoach,HN

    Trả lờiXóa
  22. Năm 2003 tuy Lê đức Anh đã về nghỉ nhưng cuối đời vẫn muốn thực hiện nốt nhiệm vụ bán nước trọn gói cho Tàu.
    *Vụ T4: là vụ Nguyễn chí Vịnh (con của NC.Thanh và con nuôi của LĐA) lên nắm Tổng cục II bịa đặt rằng họ đã cài được 1 gián điệp vào cơ quan CIA và điệp viên đó có bí danh là T4. Điệp viênT4 thông báo danh sách những người đã cộng tác với CIA, đã tiếp xúc và làm tay sai cho CIA. Danh sách đó dài lắm, nó lên đến 20 người, trong đó có PV Đồng, VN Giáp, TV Trà, rồi cả những người đang tại chức lúc bấy giờ như: VV Kiệt, PV Khải, NV An, bà VT Thắng...Mục đích là bôi nhọ làm hạ uy tín những người đó.

    Rồi tổng cục II cùng Lê đức Anh và Đỗ Mười được Tàu giúp đỡ làm 1 cuộc đảo chính, lật đổ hết và dựng nên 1 chính quyền mới, 1 BCT đảng mới, BCH/TƯ mới và hoàn toàn là tay sai của Tàu.

    @Hoach,HN

    Trả lờiXóa
  23. Kính gởi bà con Miền Bắc,

    DN xin trình bày vài sự thật:

    1) Miền Nam: Thời chiến,dù bị công, sản đánh giết, nhưng dân Miền Nam may mắn được sống trong tự do, no ấm dưới chánh thể VNCH và Sài gòn là hòn ngọc Viễn Đông. Sau 30/4/75 Miền Nam lọt vào tay cộng sản, dân Miền Nam không chấp nhận cs nên ồ ạt bỏ nước ra đi rất sớm, số may mắn còn sống được định cư tại các nước tự do, giàu mạnh. Nhờ vậy Cộng đồng NVTD/QG mà đại khối gốc Miền Nam VNCH có cơ hội làm ăn thành công, con cái đỗ đạt nên danh. Từ đó họ cố gắng giúp cho bà con ở quê nhà còn kẹt lại có vốn làm ăn, con cái có cơ hội học hành.

    Nhờ vào cuộc sống tự do trước 30/4/75 đại khối dân Miền Nam trong ngoài luôn luôn triệt để chống cộng bằng mọi hình thức, hoàn cảnh và khả năng riêng. Theo Tác giả Dân Bắc Việt đang ở trong nước thì chỉ có độ 20% dân Miền Nam trong nước dính dấp đến cộng sản hoặc còn tôn sùng HCM. Và theo Dân Nam tôi nghĩ số này là thành phần Miền Bắc theo cs vào Nam sau 30/4/75, chứ dân Miền Nam gốc VNCH không ai là không muốn vứt bỏ HCM và lật đổ chế độ cộng sản.

    2) Miền Bắc: Thời chiến, HCM và đcs Bắc Việt đã giết, cướp tài sản của đồng bào Miền Bắc, bần cùng hoá Miền Bắc, dân Miền Bắc chết thảm và đói rách tả tơi từ 1954 đến 1975. Suốt cuộc chiến đó, HCM và Đcs vừa bỏ đói, vừa kềm kẹp đồng bào Miền Bắc tơi tả. Độc ác nhứt là HCM và Đcs Bắc Việt đã lùa hàng triệu thanh niên nam nữ Miền Bắc vào nướng trong lửa đạn xâm lăng Miền Nam. Sự hy sinh quá lớn của Miền Bắc để làm gì, để giúp cho HCM thôn tính Miền Nam VNCH, làm giàu cho lãnh đạo cộng sản và bán nước cho Tàu. Còn đại khối dân Miền Bắc được gì sau chiến tranh? Có phải quí vị bị HCM và đcs lường gạt để vẫn chịu cảnh nghèo khổ trong chế độ độc tài toàn trị cộng sản và còn bị mang tiếng là theo HCM và cs đi đánh giết và ăn cướp của anh em Miền Nam. Hình ảnh anh em nhà họ Đoàn và mới đây là tiếng súng của Đặng Ngọc Viết là nạn nhân của HCM và tập đoàn cộng sản Bắc Việt.

    Sau chiến tranh đến hôm nay, đại đa số người Việt gốc Miền Bắc ngoài nước sống hợp pháp hoặc bất hợp pháp tại các nước nghèo cựu cộng sản, với lợi tức thấp, không có nhiều cơ hôi vươn lên nhanh như đại khối người Việt Miền Nam đang ở các nước tự do giàu mạnh. Thảm hơn nữa – qua kế hoạch xuất khẩu lao động - Hà nội nướng thân thanh niên nam nữ mà đa phần gốc Bắc vào các nước cựu cộng sản nghèo để làm lao động với số lương chết đói, lại còn bị Sứ quán cs Hà nội kềm kẹp, sách nhiễu, lợi dụng bằng mọi hình thức! Rất nhiều người trở thành băng đảng, tội phạm, đĩ điếm, sống chui rút, bị bỏ bên lề xã hội, v.v.

    Trớ trêu nhứt, dù Miền Bắc bị HCM và Đcs lừa tơi tả như vậy, nhưng theo Tác giả Dân Bắc Việt có đến 70% dân Miền Bắc rất tin tưởng và sùng bái HCM, thậm chí có người không thờ cha mẹ, nhưng thờ HCM! Riêng tác giả Blog (RFA) VietTuSaiGon nói ”cư dân Hà Nội có thể chiếm hơn 90% liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến đảng Cộng sản. Mọi hoạt động, giao lưu và nếp nghĩ của họ đều bị chi phối bởi đảng Cộng sản. Thậm chí, cho đến thời điểm bây giờ, vẫn còn nhiều người xem ông Hồ Chí Minh là thần tượng, là lãnh tụ thiên tài, là cha già dân tộc”.

    DN nêu ra hai phần trên không nhằm mục tiêu phân biệt hay kỳ thị vùng miền mà muốn mời bà con Miền Bắc đọc bài “Cộng Sản Đến Đâu Người Việt Điêu Linh Đến Đó”, nói đến nỗi thống khổ của người lao động – đa phần từ Miền Bắc – đang bị bóc lột tả tơi tại các nước cựu cs. Và sau đó kính mời bà con Miền Bắc bình tâm suy nghĩ thật sâu từ thời chiến đến nay, xem coi có nên đồng loạt vứt bỏ HCM và đcs chưa? Bỡi HCM và đcs đã đem lại cái chết thảm thương, đói nghèo tơi tả cho cả dân tộc hai miền và nước sắp mất trọn vào tay Tàu. Trong lúc đó HCM nằm phơi mình trong lăng, ăn bám của dân còn cấp lãnh đạo cs và con cháu của chúng giàu sụ, tiếp tục bóc lột nhân dân và bán nước mà ăn. Hy vọng sau khi đọc kỹ cmt “Cộng Sản Đến Đâu Người Việt Điêu Linh Đến Đó” đồng bào Miền Bắc sẽ thấm, và hiểu là nên hành động để tự cứu.

    Kính bút,

    @Dân Nam

    Trả lờiXóa
  24. Hỏi - Đáp •

    Hỏi : "Gần đây, CS đưa ra nhiều biện pháp có tính chất "đổi mới" như cải cách thủ tục hành chánh, lấy phiếu tín nhiệm, kêu gọi tố tham nhũng, văn hóa từ chức, kêu gọi y đức, cải cách giáo dục y tế, chế độ thi cử. Mới nhất là "đổi mới giáo dục từ yêu gia đình". Vậy tại sao lại nói là CS phá nước, bán nước, không lo cho dân ?".

    Đáp : Đảng CS rất giỏi lừa dối và mị dân (xoa dịu lòng dân). Những biện pháp nói trên, CS đã đưa ra suốt 70 năm nay rồi nhưng kết quả là lãnh thổ càng bị mất, đất nước càng lụn bại về mọi mặt. Ai cũng biết đó là hậu quả tất yếu của một chế độ độc tài. CS cũng thừa biết là chế độ độc tài đảng trị không bao giờ làm được việc gì có lợi cho dân, mà chỉ có lợi cho giai cấp cầm quyền mà thôi. Đó cũng là lý do mà thế giới từ bỏ chủ nghĩa CS. Bạn thấy có biện pháp đổi mới nào thành công chưa ? Chẳng qua, CS cố ý đưa ra những biện pháp ấy để xoa dịu lòng dân, để người dân tiếp tục chờ đợi và chờ đợi cho đến khi đảng CS "hoàn thành nhiệm vụ" bàn giao VN cho Tàu. Sự lưu manh, xảo quyệt của CS là ở chỗ đó. Nhưng thời đại Internet đang làm cho gió đổi chiều. Chế độ CS độc tài, khủng bố, bán nước sẽ không còn tồn tại lâu nữa.

    Trả lờiXóa
  25. Thưa DLB và tác giả Đặng Chí Hùng. Sau loạt bài "Những sự thật cần phải biết" chấm dứt, tôi xin đề nghị DLB cho đăng lại lần lượt 2 loạt bài "Những sự thật không thể chối bỏ" và "Những sự thật cần phải biết" (tác giả có thể sửa chữa nếu cần) nhằm mục đích :
    1) Những ai mới đến với DLB sẽ có dịp đọc.
    2) Những ai đã đọc sẽ đọc lại (coi như đây là môn lịch sử) để luôn nhớ đến tội ác của cộng sản cho đến khi chế độ CS sụp đổ hoàn toàn. Xin cám ơn.

    @HanSi

    Trả lờiXóa
  26. Đến thời đại này mà vẫn có những kẻ ghen ăn tức ở trong khi hắn là một chính trị gia giàu có ở Mỹ. Những kẻ đã từng là tù binh như John mcain thì có tư cách gì để mà phát biểu vê Việt Nam, hắn bây giờ chịu ảnh hưởng nặng của hội chứng căm ghét Việt Nam rồi nên cứ đụng một tí là chống Việt Nam mà thôi. John Mcain là con ông cháu cha nên mới leo lên được trong chính quyền Mỹ như vậy. Còn không thì có khi đã bị đuổi lâu rồi.

    Trả lờiXóa
  27. Chúng ta hãy xem tên này là người như thế nào mà ghen ăn tức ở vậy. McCain là một học viên nổi loạn và đời binh nghiệp của ông tại Học viện Hải quân rất mâu thuẫn nữa yêu nữa ghét và mù mờ. Ông thường hay cãi nhau với ban giám hiệu và lãnh đạo của trường; mỗi năm ông bị trên 100 lần kỷ luật (vì giày không đánh bóng, đội hình không chỉnh tề, nói chuyện không đúng chỗ và những việc đại khái như vậy) khiến ông mất đi tư cách thành viên trong "Câu lạc bộ Thế kỷ". Ông không ưa những thượng cấp ngang nhiên chứng tỏ quyền lực trước mặt ông. Tóm lại hắn là loại ương bướng, và mấy tên đang nói nhăng cuội ở trên là những thằng ngu.

    Trả lờiXóa
  28. John Mcain đã từng là tù binh đấy, là một tên chính khách diều hâu của Mỹ. Hắn bị bắt và ngồi tù nhưng McCain từ chối gặp vô số các nhóm phản chiến mưu tìm hòa bình tại Hà Nội vì không muốn cho họ và những người Bắc Việt một chiến thắng về mặt tuyên truyền.Từ cuối năm 1969 trở đi, việc đối xử với McCain và nhiều tù binh khác có phần dễ chịu hơn, trong khi đó McCain tiếp tục chống đối nhà chức trách trại giam. McCain và các tù binh khác reo hò cổ vũ cho chiến dịch dội bom của Hoa Kỳ trong dịp lễ giáng sinh 1972 vì xem đó như một hành động mạnh tay bắt Bắc Việt phải tuân theo điều kiện của Hoa Kỳ. May mà Việt Nam đã tha bổng cho hắn rồi không là hắn đã chết từ lâu trong nhà tù.

    Trả lờiXóa
  29. Sao hắn không bị chết trong tù luôn nhỉ mà lại còn thả hắn về để hắn suốt ngày chống Việt Nam, tên này là một trong những chính khách diều hâu nhất trong chính quyền Mỹ. Hắn mở miệng ra là đòi chống chính quyền Việt Nam, thật không hiểu được nữa. Chắc là hồi xưa thất bài và thấy nhục nhã quá nên hắn đã thù hận và cứ hở ra là hắn chống Việt Nam. Ngay cả lễ tang của Đại tướng mà hắn còn chống nữa thì hắn đúng là loại vô liêm sỉ.

    Trả lờiXóa
  30. Thằng ngu xuẩn này. Sao hắn dám nói đại tướng Võ Nguyên Giáp như vậy, hắn có là cái đinh gỉ gì đâu mà dám hỗn láo. Và cả mấy thằng bình luận nhăng cuội ở trên nữa. Không biết chữ hay sao mà bình luận loạn hết cả lên như vậy. Việt Nam này nếu mà không có những nhân tài như tướng Giáp thì đã loạn lạc rồi. Phải biết cảm ơn những người đã khuất thay vì chúng mày cứ nhảy vào mà nói lung tung như vậy. Còn thằng cựu tù binh John Mcain đó thì chẳng ai chấp đâu.

    Trả lờiXóa
  31. Hắn hồi xưa là phi công cường kích của hạm đội địa trung hải của Mỹ, Hắn luôn ngỗ ngược và ương bướng, không chịu chấp hành gì đến các nội quy khi bay nên mới bị tai nạn mấy lần cũng như hắn luôn có thái độ như vậy nên mới bị kỷ luật. Tóm lại hắn là con ông cháu cha nên mới leo lên được như vậy. Nay đã có vị thế trên chính trường thì hắn xuyên tạc sự thật và xúc xiểm người khác là thế nào. Thật là loại ngu nên mới láo như vậy.

    Trả lờiXóa
  32. Hãy xem người Mỹ nói gì tác giả ạ. chúng ta không cần lên tiếng cũng đủ hiểu. Một độc giả có tên Kenneth Deardorff viết: “Là một cựu chiến binh Mỹ từng chiến đấu ở chiến trường Việt Nam, tôi tôn trọng tướng Giáp hơn ông John McCain rất nhiều. Tướng Giáp được gọi là “Napoleon đỏ” trong khi thượng nghị sĩ McCain, John Kerry… đang tiêu diệt nước Mỹ của chúng tôi thông qua các chiêu bài chính trị hoặc "các cuộc chiến tranh bằng mọi phương tiện”. Chính người Mỹ đã nói như vậy. Thế mà chỉ một thằng tép riu như John Mcain dám bôi nhọ tướng Giáp. Đúng là hắn quá ngu ngốc.

    Trả lờiXóa
  33. Và đây là một bình luận khác trước các câu nói ngu của tên thượng nghị sĩ diều hâu này. Câu nói của người Mỹ. Tôi xin trích lại. Độc giả ký tên là Arthur Sido viết: “Đó là một sự xấu hổ mà kinh nghiệm của mình tại Việt Nam không dạy Thượng nghị sĩ McCain rằng Hoa Kỳ nên tránh xa những cuộc chiến tranh vô nghĩa. Chúng tôi đã phải tham gia những cuộc chiến kiểu vậy gần hết cuộc đời mình và cùng với đó là tiêu tốn hàng trăm tỷ USD, khiến những thanh niên Mỹ bị tàn tật suốt đời”. Vậy mà John Mcain dám xúc xiểm Đại tướng thân yêu của chúng ta.

    Trả lờiXóa
  34. Độc giả James M. Smith viết: "Nếu mọi người thực sự muốn được tự do làm chủ đất nước mình và không bị một thế lực nước ngoài nào thống trị, các bạn sẽ làm gì ngoài chiến đấu đến hơi thở cuối cùng?”. Đúng, tôi đồng ý với ý kiến này. Chúng ta không thể nghĩ khác được khi chiến đấu cho sự độc lập của dân tộc và sự bình yên của đất nước. Đại tướng Võ Nguyên Giáp hết sức trăn trở vì điều đó. Chắc chắn là như vậy. Còn tên John Mcain chỉ là một kẻ thua cuộc mà thôi.

    Trả lờiXóa
  35. Mỹ đã can thiệp vào chính trị Việt Nam và hỗ trợ một cuộc đảo chính giết người chống lại một chính phủ được dân bầu, sau đó leo thang chiến tranh dựa trên những lời nói dối (sự kiện Vịnh Bắc Bộ). Cuộc chiến tranh đã được tiến hành một cách tàn bạo ( bằng chất độc da cam, và các cuộc thảm sát ở những làng quê) để đổi lại 50.000 lính Mỹ đã thiệt mạng”, Tôi đã thấy trên mạng xã hội twiter người ta chửi thằng cha John Mcain này nhiều lắm vì tội ngu dốt, dám nói liều. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là vĩ đại nhất. Còn tên kia chỉ là một kẻ thua cuộc.

    Trả lờiXóa
  36. John Mcain đã không hiểu tinh thần và những quyết tâm của nhân dân Việt Nam là gì nên mới phát biểu liều và bị ném đá như vậy. Làm thế nào bạn có thể giành chiến thắng mọi trận chiến, nhưng thua cả một cuộc chiến tranh? Bởi chúng ta không biết mục tiêu của mình là gì khi chiến đấu… Bạn không thể giành chiến thắng nếu bạn thậm chí không biết lý do tại sao bạn đang cầm súng. Người Việt Nam đã biết chính xác họ chiến đấu vì cái gì còn chúng ta thì không. Thất bại là điều không thể tránh khỏi. Đó là lời nói của một người đã từng chiến đấu ở Việt Nam. John Mcain đã bị ném đá trên mạng. Thật là một thằng ngu.

    Trả lờiXóa
  37. NHỮNG SỰ THẬT CẦN PHẢI BIẾT (phần 16) - VÕ VĂN KIỆT: Kẻ ăn vụng biết chùi mép

    Võ Văn Kiệt được cho là một trong lãnh đạo tiến bộ có nhiều tư tưởng cải cách, đổi mới được một số người lầm tưởng cho rằng ông ta là một trong những người “tốt” và “phá cách”. Nhưng sự thật có phải như vậy hay không? Hoàn toàn không phải như vậy mà căn bản sau khi tìm hiểu thì Võ Văn Kiệt chỉ là một trong những kẻ “ăn vụng biết chùi mép” mà thôi. Trong bài viết này tôi xin vạch ra một số bằng chứng cho thấy Võ Văn Kiệt không hề phá cách mà độc tài như biết bao lãnh tụ cộng sản khác.

    I. Sơ qua về con người Võ Văn Kiệt:

    Theo tiểu sử của Võ Văn Kiệt đăng trên báo Công an nhân dân (cộng sản) thì ông ta có hơn 60 năm tuổi đảng, điểu này cho thấy ông ta cũng gạo cội như bao “đồng chí” khác trong việc cướp, cướp nữa, cướp mãi của dân tộc Việt Nam.

    Trích đoạn nguyên văn trên báo Công an:

    “Đồng chí Võ Văn Kiệt; tên khai sinh là Phan Văn Hòa; bí danh: Sáu Dân. Sinh ngày 23/11/1922, tại xã Trung Hiệp, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

    Năm 1938, đồng chí tham gia hoạt động trong phong trào Thanh niên phản đế. Tháng 11/1939, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, làm Bí thư Chi bộ, Huyện ủy viên và tham gia cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ ở huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.

    Từ năm 1941 đến năm 1945, đồng chí hoạt động cách mạng ở Rạch Giá, tham gia Tỉnh ủy lâm thời và tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở tỉnh Rạch Giá.

    Sau Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, khi thực dân Pháp tái chiếm Nam Bộ, đồng chí làm Ủy viên Chính trị dân quân cách mạng liên tỉnh Tây Nam Bộ.

    Năm 1950, đồng chí được điều về tỉnh Bạc Liêu làm Phó Bí thư rồi Bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu.

    Năm 1955, đồng chí được bầu làm Ủy viên Xứ ủy Nam Bộ, Phó Bí thư liên Tỉnh ủy Hậu Giang.

    Năm 1959, đồng chí được điều về Khu Sài Gòn - Gia Định làm Bí thư Khu ủy T.4 (Sài Gòn - Gia Định) cho đến cuối năm 1970.

    Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (năm 1960), đồng chí được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Là Ủy viên Trung ương Cục miền Nam, đồng chí tiếp tục làm Bí thư Khu ủy T.4 (Sài Gòn - Gia Định), rồi Bí thư Khu ủy Khu 9 (Khu Tây Nam Bộ).

    Năm 1972 đồng chí được bầu làm Ủy viên chính thức Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III. Từ năm 1973 đến 1975 đồng chí được điều về công tác ở Trung ương Cục và là Ủy viên Thường vụ Trung ương Cục miền Nam. Trong thời gian chuẩn bị giải phóng Sài Gòn, đồng chí được Trung ương Cục phân công làm Bí thư Đảng ủy đặc biệt trong Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn.

    Năm 1976 đồng chí làm Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng chí được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa VI. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (năm 1976), đồng chí được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu làm Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị và được phân công làm Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh.

    Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (tháng 3/1982), đồng chí tiếp tục được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị.

    Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986), đồng chí tiếp tục được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị. Tháng 02/1987, đồng chí được bầu làm đại biểu Quốc hội khóa VIII và được Quốc hội phê chuẩn giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Phó Chủ tịch Thường trực rồi Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng,

    Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (tháng 6/1991), đồng chí tiếp tục được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị. Tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VIII, đồng chí được Quốc hội phê chuẩn giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng; sau đó, tại Kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII (tháng 8/1991), đồng chí được Quốc hội bầu giữ chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    (Xin xem tiếp Võ Văn Kiệt phần 2 )

    Trả lờiXóa
  38. (Võ Văn Kiệt phần 2 )

    Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (tháng 6/1996), đồng chí tiếp tục được bầu lại vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị và được cử làm Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị.

    Tại Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa IX (1992-1997), đồng chí được Quốc hội bầu làm Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh.

    Từ tháng 12/1997 đến tháng 4/2001, đồng chí được Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII cử làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Đồng chí là đại biểu Quốc hội các khóa VI, VIII, IX. Do có công lao to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, đồng chí đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng, nhiều huân chương, huy chương cao quý khác và Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng”.

    Chúng ta đọc nguyên văn tiểu sử của Võ Văn Kiệt cho thấy một con người tham gia đảng cộng sản suốt từ năm 17 tuổi cho đến chết với hơn 60 năm tuổi đảng thì khó có thể trong sạch và tử tế. Và cũng chính bởi không tử tế nên ông ta đã được băng đảng cướp phong tặng nhiều huân huy chương giành cho những kẻ có thành tích của đảng.

    Theo thông tin được loan tải rộng rãi từ lề dân trên Internet, Võ Văn Kiệt là một chính trị gia háo dâm và có nhiều thủ đoạn. Ông là một nhân vật chủ chốt trong vụ tham nhũng hàng chục triệu USD về dự án xây dựng đường giây điện cao thế 500KVA từ Bắc vào Nam. Vì không thể làm ngơ được trước áp lực quá mạnh của dư luận, Võ Văn Kiệt buộc lòng phải hy sinh một đàn em của ông là Vũ Ngọc Hải, Bộ trưởng Năng lượng, với bản án ba năm tù về tội “lãng phí tài sản nhà nước”. Hải âm thầm chịu đựng làm vật tế thần và sau khi mãn hạn tù (được ân xá sớm), ông ta được bổ nhiệm chức vụ Tổng Giám đốc Công ty Điện lực Việt Nam, một trong những nơi hái ra tiền.

    Vợ của Võ Văn Kiệt là Phan Lương Cầm, cựu giảng viên ĐHBK Hà Nội. Bà này là vợ hai của ông Kiệt, bà vợ cả là Trần Kim Anh đã chết năm 1966. Phan Lương Cầm là người đứng sau giật dây nhiều vụ áp-phe không lồ. Báo chí quốc tế đã có thời kỳ gọi bà là “Mrs 10%” (Bà Mười Phần Trăm) vì đó là tỷ lệ chia chác cho bà trong các hợp đồng thương mại được ký kết ở cấp Chính phủ. Phan Lương Cầm “núp bóng” chồng để buộc cán bộ kỹ thuật phải sử dụng hàng trăm ngàn chiếc cột điện đặc chế do bà sản xuất trong dự án xây dựng đường dây Bắc - Nam. Theo sự đánh giá của các chuyên gia ngoại quốc, những chiếc trụ điện tráng kẽm theo công thức của “khoa học gia” Phan Lương Cầm là quá mắc và dễ hỏng nhưng nhà nước đã phải trả cho bà hàng chục triệu USD. Lợi dụng chức vụ của chồng và được chồng bảo kê, bà Cầm cũng đã tiến hành rủa tiền và chiếm đất của dân qua dự án sân Golf Đồng Mô - Hà Nội và nhiều biệt thự ven biển Mỹ Khê - Đà Nẵng, Nha Trang, Cam Ranh - Khánh Hòa.

    Một scandal khác suýt khiến Võ Văn Kiệt rơi đài là vụ một đơn vị hải quan và biên phòng ở Hạ Long - Quảng Ninh bắt giữ hơn 200 chiếc xe hơi mới toanh nhập cảng lậu vào Việt Nam bởi “quý tử của Thủ tướng”. Ông đã tức tốc đích thân can thiệp vào vụ này trước khi nó nổ lớn và đã “giải quyết êm thấm” bằng cách thăng chức cho các sĩ quan biên phòng đã giải thoát cho cậu con trai của ông. Con trai của Võ Văn Kiệt là “một đại gia trong các đại gia cỡ lớn” ở Việt Nam. Tuy còn trẻ (trên dưới 30 tuổi) nhưng y là chủ nhân của bãi biển Ty-Top và khách sạn hạng sang Plaza Hotel ngay ở trung tâm Sài Gòn. Theo một tài liệu có thể tin cậy được, gia đình Võ Văn Kiệt có khoảng $370 triệu USD trong các ngân hàng ngoại quốc, không kể hàng chục bất động sản thương mại trong và ngoài nước.

    (Xin xem tiếp Võ Văn Kiệt phần 3 )

    Trả lờiXóa
  39. (Võ Văn Kiệt phần 3 )

    Ông Võ Văn Kiệt tuy không ra mặt, nhưng vợ con ông ta khuynh đảo các gói thầu, hợp đồng kinh tế béo bở. Bà Cầm tuy không đứng tên nhưng vẫn là bà ta trúng thầu: Cung cấp sắt đường dây 500 klv (ăn chênh lệch sắt nhập tốt bằng sắt nấu lại từ phế phẩm), Hồ Dầu Tiếng - Tây Ninh (bị rò), Đường HCM đoạn từ Đà Lạt đến Bình Dương (ông Võ Văn Kiệt đã làm lễ khởi công ở Buôn Mê Thuật sau bị mang tiếng, bỏ). Tất cả các quota nhập xe hơi đều phải qua tay bà Cầm... Không những thế, trước khi nhắm mắt lìa đời ông sợ vợ con ông sau này bị đám còn sống "cải tạo tư sản mại bản" nên dặn dò 1 câu mà nhiều người biết: "Phải tuân thủ tổ chức" tức là muốn giàu bền vững phải bám vào đảng.

    Cái mà người dân chúng ta nhìn thấy bề ngoài đó là thủ tướng Kiệt xé rào mở cửa kinh tế thi trường tự do định hướng XHCN là do đàn anh Trung cộng chỉ thị cho phép sau mật ước Thành Đô 1990 chứ không phải là chủ trương của ông Kiệt cũng như cộng sản Việt Nam. Thời điểm đó Trung cộng đã mở cửa làm ăn với Mỹ và thế giới tự do vào cuối thập niên 70. Trung cộng đã chỉ đạo cộng sản Việt Nam và ông Kiệt phải tuân theo để khỏi bi sụp đổ như Đông Âu và Liên Xô.

    Ông Kiệt sinh năm 1922. Ngoài 2 bà vợ Phan Lương Cầm và Trần Kim Anh thì ông Kiệt còn một người con rơi mang tên Phan Thành Nam sinh năm 1952, hiện là chủ công ty Tradico. Con gái ông Kiệt là Phan Hiếu Dân sinh năm 1955 hiện làm chủ rất nhiều tài sản ở Sài Gòn, bất cứ nơi nào người ta cũng nghe nói đến tài sản của bà Dân.

    Có điều lý thú là bà Cầm sinh năm 1943 thì không thể có con là Phan Thành Nam sinh năm 1952 khi bà Cầm 10 tuổi được. Như vậy Phan Thành Nam rõ ràng là con của 1 bà vợ khác của ông Kiệt hoặc lý lịch công khai của bà Cầm là man trái vì bà sinh năm 1943. Qua Nga năm 1970, thì năm 1973 trở thành tiến sĩ giáo sư, với nhiều chức vụ quan trọng như giám đốc chủ tịch của nhiều hiệp hội khoa học kỹ thuật. Vì chính những cái lối con quan vợ quan học 3 hôm trở thành Tiến Sỹ giáo sư, nên đất nước chúng ta hiện nay không sản xuất nổi một chiếc đinh vít cho đúng với nghĩa đinh vít.

    Cũng cần đọc thêm là qua hai nguồn Wiki được chấp nhận bởi cộng sản thì Phan Thành Nam sinh năm 1952 khi bà vợ cả Trần Kim Anh chưa mất (Năm 1966). Như vậy trong lúc vợ cả còn sống thì ông Kiệt cũng giống như bao nhà “cách mạng” khác lang chạ, vợ nọ con kia. (2), (3).

    Tuy nhiên đây chỉ là vài nét sơ qua về con người và gia đình ông Kiệt. Trong bài viết này chủ yếu đến 2 tội ác của ông Kiệt: Tội khủng bố trong chiến tranh, cướp bóc trong chiến dịch đánh tư sản và tội đàn áp dân chủ tự do. Bài viết này với những sử liệu cho thấy sự thật khác hẳn sự ca tụng sai lệch của cuốn sách “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức để đánh bóng cho tên tuổi của một người thân của Huy Đức - ông Võ Văn Kiệt.

    II. Khủng bố trong chiến tranh và tham gia tích cực vào việc “Cướp ngày”

    1. Một chỉ huy khủng bố:

    Thứ nhất, Võ Văn Kiệt trong chiến tranh đã góp công không nhỏ vào việc cướp đoạt VNCH của cộng sản. Đặc biệt trong chiến dịch khủng bố và tráo trở Tết mậu Thân 1968 thì Võ Văn Kiệt góp công lớn. Đây là bài viết của Lê Thanh Hải - bí thư SG trên báo Sài Gòn Giải Phóng có đoạn:

    “Cuối tháng 10 năm 1967, Hội nghị Trung ương Cục miền Nam họp và ra Nghị quyết về tiến hành tổng công kích - tổng khởi nghĩa (Nghị quyết Quang Trung). Thực hiện “Nghị quyết Quang Trung”, Khu trọng điểm được thành lập bao gồm Khu Sài Gòn - Gia Định và một phần đất của các tỉnh tiếp giáp với Sài Gòn (tạm thời giải thể Khu Sài Gòn - Gia Định). Khu trọng điểm gồm 6 phân khu, đặt dưới sự lãnh đạo của một Đảng ủy gồm các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt, Trần Văn Trà và hình thành 2 Bộ Tư lệnh Tiền phương Bắc (I) và Nam (II). Đồng chí Sáu Dân - Võ Văn Kiệt làm “Tư lệnh Bộ Tư lệnh tiền phương II”.

    (Xin xem tiếp Võ Văn Kiệt phần 4 )

    Trả lờiXóa
  40. ( Võ Văn Kiệt phần 4 )

    Trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 ở Khu trọng điểm, đồng chí Sáu Dân - Võ Văn Kiệt với tư cách người đứng đầu Bộ Tư lệnh Tiền phương II (Nam Sài Gòn) đã cùng Đảng ủy Khu trọng điểm và Bộ Tư lệnh Tiền phương lãnh đạo, chỉ huy đánh vào những mục tiêu chiến lược hàng đầu của địch, góp phần đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh và đàm phán với ta ở Paris.” (4).

    Như vậy tội khủng bố của Kiệt là không thể chối bỏ.

    Ngoài ra bài báo của Lê Thanh Hải còn khẳng định Võ Văn Kiệt cũng là một trong kẻ chủ chốt tiến hành cướp phá VNCH trong năm 1975:

    “Ngày 8 tháng 4 năm 1975, Bộ Chỉ huy Chiến dịch giải phóng Sài Gòn - Gia Định được thành lập, sau đó được vinh dự mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh gồm 12 đồng chí, trong đó có đồng chí Võ Văn Kiệt, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Trung ương Cục được phân công phụ trách công tác tiếp quản sau giải phóng.”

    Thứ hai, cũng vẫn là báo đảng ca ngợi “thành tích” khủng bố của đồng chí Võ Văn Kiệt như sau:

    “Trung ương nhìn thấy những khó khăn của khu Tây Nam bộ, nên tháng 11/1971 đã điều động đồng chí Võ Văn Kiệt về làm Bí thư Khu ủy khu Tây Nam bộ.” Và kết quả chỉ huy của “đồng chí” Võ Văn Kiệt như sau:” Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu Tây Nam bộ quyết định mở chiến dịch tổng hợp, chọn U Minh - Chương Thiện làm trọng điểm I; Trà Vinh làm trọng điểm II. Qua 6 cao điểm, từ tháng 4 - 8/1972, khu Tây Nam bộ đã loại khỏi vòng chiến đấu 26.000 tên địch, giải phóng trên 19 xã với hơn 400.000 dân, khí thế của cán bộ, quân và dân tăng lên rõ rệt.” (5)

    Bỏ qua cái mỹ từ “giải phóng” thì chúng ta con số người chết do sự chỉ đạo của Võ Văn Kiệt đi xâm lăng nước khác cũng cho thấy ông ta là con người như thế nào.

    Thứ ba, cũng nói đến vai trò của Võ Văn Kiệt quan trọng đến thế nào trong chiến dịch ăn cướp miền năm năm 1975 thì báo đảng đã khẳng định:

    “Ngay sau đó, Bộ Chỉ huy Miền đã họp và quán triệt Chỉ thị của Bộ Chính trị và bàn các giải pháp thực hiện. Trung ương Cục và Quân ủy Miền đã thông qua kế hoạch kết hợp tiến công quân sự với phong trào nổi dậy của quần chúng. Trung ương Cục cử đồng chí Võ Văn Kiệt chuyên lo vấn đề tổ chức và chỉ đạo kế hoạch nổi dậy của quần chúng phối hợp với cuộc tiến công của các binh đoàn chủ lực của ta và thành phố. Trung ương Cục cũng chỉ đạo các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long tự giải phóng với phương châm: xã giải phóng xã, huyện giải phóng huyện, tỉnh giải phóng tỉnh.” (6)

    Như vậy chúng ta thấy rõ ràng trong sự sụp đổ của miền Nam bởi những kẻ xâm lăng miền Namthì Võ Văn Kiệt có vai trò không hề nhỏ chút nào.

    (Xin xem tiếp Võ Văn Kiệt phần 5 )

    Trả lờiXóa
  41. ( Võ Văn Kiệt phần 5 )

    2. Tham gia cướp ngày:

    Để cướp đoạt tài sản và tiền của thì đảng cộng sản đã tiến hành chính sách đánh tư bản, đổi tiền và tịch thu tài sản của nhân dân dưới mỹ từ “đánh gian thương”, “tiểu tư sản”. Hậu quả đó là hàng triệu người bị cướp nhà giao cho cán bộ, bị mất cơ nghiệp và bị đẩy đi kinh tế mới. Kết quả X-2 và X-3, với “công lao to lớn” của Đỗ Mười, Mai Chí Thọ... thu được khoảng hơn 4.000 kg vàng, gần 1.200.000 đô la, và một khối lượng hàng hóa không thống kê hết. Từ chiếc xe hơi, TiVi, tủ lạnh, đến bịch bột giặt, quả trứng gà đều khê khai và tịch thu chất trong các kho, để rồi không cánh mà bay, hoặc biến thảnh phế thải. Sau đó cộng sản tích cực đẩy bà con đi kinh tế mới. Để minh chứng cho việc Võ Văn Kiệt có vai trò không nhỏ thì chúng ta cần phải có những dẫn chứng sau đây:

    Thứ nhất, năm 1976, ông Kiệt là ủy viên Bộ Chính Trị (dự khuyết), bí thư Sài Gòn (đã bị cưỡng ép đổi tên thành Thành phố Hồ Chí Minh). Những kế hoạch đánh tư sản, ông ta không thể không biết và không tham gia. Kinh tế miền Nam nói riêng, Việt Nam nói chung từ đó bắt đầu bị suy kiệt. Mặc dù sau 1975, cộng sản tiếp quản một cơ sở sản xuất phồn thịnh ở thành phố, và vùng đất trù phú ở nông thôn. Võ Văn Kiệt tiếp sức cùng Đỗ Mười phá nát cơ sở công nghiệp thương mại Sài Gòn. Theo hệ thống chính trị thì Võ Văn Kiệt không thể không “đồng tình” để rồi không tham gia. Vì nếu không tham gia đồng tình với những kẻ cướp ngày (Xem “Những sự thật cần phải biết” phần 13 - Những kẻ cướp ngày) thì ông ta đã không thể đứng vững và tiến xa trong nhịp đập chung của những kẻ ăn cướp.

    Thứ hai, miền Nam Việt Nam đến ngày 30/04/1975 vẫn còn nguyên các công trình kinh tế, nhà máy, hạ tầng cơ sở, bệnh viện, trường học, giáo dục của 1 nền kinh tế đúng đắn: kinh tế thị trường. Cho đến ngày 30/04/1975 tại miền Nam công nhân vẫn còn việc làm tại các khu công nghiệp như tại Biên Hòa. Nông dân miền Nam vẫn vừa làm vừa chơi vẫn dư dả. Dưới sự lãnh đạo "tài tình và sáng suốt" của đcs Việt Nam trong đó có Võ Văn Kiệt chỉ sau 5 năm "giải phóng" cả nước sắp chết đói. Cũng vì sự "tài tình" mà đồng bằng sông Cửu long là vựa lúa của cả nước mà không sản xuất nổi gạo nuôi sống cả nước?. Chính Võ Văn Kiệt và đảng cộng sản đã tiến hành để cướp bóc đến thảm trạng chết đói của dân. Tại sao các nhà máy tại Biên hòa và toàn miền nam phải đóng cửa để công nhân thất nghiệp ra đứng đầy đường nếu không có "công" của Lê Duẩn, Võ Văn Kiệt, Đỗ Mười...?

    Nếu nền kinh tế thị trường tại miền Nam không bị Võ Văn Kiệt và đảng cộng sản bóp cổ chết thì Việt Nam chưa đến nỗi mạt, xếp hạng gần cuối bảng kinh tế thế giới như ngày hôm nay. Đảng cs Việt Nam đã làm dân tộc ta điêu đứng và đói khổ vô hạn. Chính vì sợ dân chết đói sẽ làm loạn miền Nam mà cộng sản bắt buộc phải “xé rao” bằng cách thức trợ giá của Võ Văn Kiệt. Ngoài ra cũng là một mũi tên trúng hai đích để mị dân rằng đảng và Võ Văn Kiệt “lo cho dân” nhưng thực chất là dùng miếng ăn để dễ bề cai trị nhân dân Miền Nam đang quen với một chế độ tự do và no ấm thực sự như VNCH. Như vậy trong việc cướp của và “xé rào” thì Võ Văn Kiệt đã khéo ăn vụng và chùi mép để lấy tiếng “tiến bộ”.

    Thứ ba, nói về hành động đánh tư sản hay còn gọi là “cướp ngày” thì chính cộng sản đã công nhận Võ Văn Kiệt có vai trò không nhỏ. Trong văn kiện đại hội đảng cộng sản tháng 4 năm 1979 (Số 03/VKĐ- BCT) khi đánh giá về tình hình miền Nam có đoạn trang 3:

    “Trong 4 năm qua chúng ta đã giải quyết thành công nạn tư bản mại bản tại miền nam do tàn dư của chế độ cũ để lại. Thành công có sự đóng góp không nhỏ của các đồng chí trong bộ chính trị, đặc biệt là các đồng chí Đỗ Mười, Mai Chí Thọ, Võ Văn Kiệt và các đồng chí trong ủy ban quân quản thành phố. Việc đánh tư sản mại bản đã được thực hiện nghiêm túc và đạt được nhiều thắng lợi quan trọng...”

    Thì ra đảng công nhận Võ Văn Kiệt “có công” lớn trong đánh cướp của cải của nhân dân đây mà.

    (Xin xem tiếp Võ Văn Kiệt phần 6)

    Trả lờiXóa
  42. (Võ Văn Kiệt phần 6)

    Cũng văn kiện này khẳng định chính sách đẩy nhân dân Miền Nam đi kinh tế mới sau khi cướp bóc của họ nhà cửa tài sản mà Võ Văn Kiệt tham gia chính yếu:

    “Ngoài việc đánh tư bản. Quân ủy trung ương đã chỉ đạo ủy ban quân quản triệt để thực hiện chính sách đưa người dân đi kinh tế mới.”

    Chúng ta hẳn cũng đã biết Võ Văn Kiệt là thành viên chủ chốt của ủy ban quân quản thành phố SG. Vậy thì việc thực hiện chính sách đẩy dân đi kinh tế mới Võ Văn Kiệt không thể “vô can”.

    Thứ tư, sau khi chiếm được miền Nam, chính sách bắt nhân dân đi làm thủy lợi và thanh niên đi “xung phong” cũng là một tội ác của cộng sản nói chung và Võ Văn Kiệt nói riêng. Để nói về điều này thì báo đảng đã ca ngợi:
    “Tích cực tham gia khai hoang, phục hóa và xây dựng kinh tế. Những năm tháng đầu của cuộc sống hòa bình xây dựng đất nước, Lực lượng TNXP thành phố đã bất chấp nguy hiểm, khó khăn, tham gia tháo gỡ bom mìn, khai hoang phục hóa, làm thủy lợi, cải tạo và xây dựng đồng ruộng để trồng các loại cây nông nghiệp ngắn ngày trên vùng đất hoang hóa ở ngoại thành Thành phố, tham gia xây dựng hàng loạt nông trường và công trình thủy lợi góp phần phát triển kinh tế...” (7)

    III. Một kẻ độc tài, tiêu diệt dân chủ

    Đây là một trong những tội ác nặng nề của Võ Văn Kiệt vì từ lúc Võ Văn Kiệt đã bóp vỡ những đấu tranh dân chủ, bỏ tù người yêu nước và ra nhiều chính sách độc tài. Chính Võ Văn Kiệt cũng đã là người đưa Nguyễn Tấn Dũng - một tên tham nhũng và độc tài lên cai trị Việt Nam.

    Thứ nhất, tại Hội nghị Thành Đô năm 1990, Võ Văn Kiệt là nhân vật quan trọng phái đoàn Việt Nam. Mật ước hội nghị Thành Đô đã đưa Việt Nam ngày càng lệ thuộc vào Tàu cộng, nguy cơ mất nước cũng phát xuất từ đây. Và để thực hiện cho được nội dung của hội nghị này thì Võ Văn Kiệt đã thực hiện bỏ tù nhiều người yêu nước.

    Tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII (tháng 8 năm 1991), Võ Văn Kiệt được Quốc hội bầu giữ chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (thay Đỗ Mười). Tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa IX (1992-1997), Võ Văn Kiệt được bầu làm thủ tướng, Phó Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh.

    Thập niên 90 là thời kỳ của Võ Văn Kiệt có một số vụ án và sự kiện chính trị đáng chú ý:

    Tháng 11/1991: Bác sĩ Nguyễn Đan Quế bị xử 20 năm tù và 5 năm quản thúc tại gia, cùng với nhà báo Châu Sơn Nguyễn Văn Thuận án 10 năm, trong một phiên tòa chớp nhoáng, không có luật sư biện hộ và không cho công chúng tham dự.

    Tháng 5/1992: Luật sư Đoàn Thanh Liêm bị xử 12 năm tù vì bài viết “Năm Điểm Thỏa Thuận Căn Bản” nhằm đặt cơ sở luận lý và pháp lý cho một Hiến Pháp tương lai.

    Tháng 3/1993: Giáo sư Đoàn Viết Hoạt bị xử 15 năm tù, và những bạn đồng chí hướng khác với mức án trên dưới 10 năm, vì ấn hành tờ báo bí mật “Diễn Đàn Tự Do”.

    Tháng 12/1993: Việt kiều Kỳ Ngọc Thanh và 4 người thuộc Liên Minh Hùng Gia Đại Việt cùng 2 nông dân với bản án tổng cộng 47 năm, về vụ thực hiện Chiến Dịch Nguyễn Trãi đòi hỏi đa nguyên đa đảng, và tổ chức 150 nông dân biểu tình trước Sở Thú Sài-gòn vào ngày 20/5/1991 nhằm yêu cầu giải quyết công bằng ruộng đất.

    Tháng 8/1995: Giáo sư Nguyễn Đình Huy bị xử 15 năm tù giam, và những bạn đồng chí hướng khác với mức án trên dưới 10 năm, vì hoạt động trong Phong Trào Thống Nhất Dân Tộc Và Xây Dựng Dân Chủ, tiến hành tổ chức công khai Hội Nghị Quốc Tế Về Vấn Đề Phát Triển Việt Nam tại Sài Gòn.

    Như vậy suốt thời kỳ Võ Văn Kiệt thì việc bỏ tù người yêu nước cũng diễn ra như cơm bữa và nói ông ta “ dân chủ”, “xé rào” là lố bịch.

    Thứ hai, ngoài việc bất bớ các nhà yêu nước, đấu tranh cho dân chủ thì Võ Văn Kiệt cũng ra những chính sách cho phép đàn áp nhân quyền và dân chủ. Hãy thử điểm xem ông ta đã làm gì.

    (Xin xem tiếp Võ Văn Kiệt phần 7)

    Trả lờiXóa
  43. (Võ Văn Kiệt phần 7)

    Tháng 4/1997: Nghị định 31/CP do chính ông Võ Văn Kiệt ký ban hành nhằm quản chế hành chánh - một công cụ pháp luật chính yếu để trấn áp các nhân vật tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền. Nghị định 31/CP ban hành ngày 14/04/1997 cho phép giam giữ công dân ngay tại gia đình (quản chế tại địa phương) mà không cần xét xử, mở đường dễ dàng hơn cho những đợt trấn áp sau đó của đảng cộng sản VN đối với những người thể hiện công khai chính kiến khác biệt. Có thể có người cho rằng Võ Văn Kiệt chỉ là người phải chấp hành kỷ luật đảng hay nguyên tắc “tập trung dân chủ” của đảng cộng sản VN khi hạ bút ký vào văn bản phản dân chủ đó. Nhưng nếu vậy, thì ông ta làm thủ tướng làm gì? Bù nhìn chăng? Hoàn toàn không phải vậy mà là sự đồng thuận.

    Ngoài ra để đánh phá công cuộc đấu tranh của người Việt tự do thì chính Võ Văn Kiệt đã ra "Nghị quyết 36/CP" để gọi kẻ cựu thù là khúc ruột ngàn dặm, một bộ phận không thể tách rời. Đến nay ai cũng biết đó là nghị quyết vừa để rút ruột những người Việt tị nạn cộng sản. Vừa để cho phép đánh phá phong trào tự do thông qua chiêu bài “hòa hợp, hòa giải”.

    Như vậy Võ Văn Kiệt đâu có phải là nhà dân chủ hay là một thứ tiến bộ gì? Thực chất là một thành viên nằm trong tập đoàn độc tài, bán nước và có khả năng chùi mép cao.

    Thứ ba, thời Võ Văn Kiệt làm thủ tướng cũng là thời Trung Tướng Trần Độ bị vùi dập. Sách “Nhật ký rồng rắn” của ông viết trong giai đoạn 2000-20012 bị tịch thu và cấm xuất bản... Trích đoạn từ “Nhật Ký rồng rắn” của ông Trần Độ:

    “Thật ra Đảng Cộng sản VN từ lâu đã không còn tin vào miệng lưỡi của chính mình nhưng vì tham lam vô độ đam mê quyền lợi và vật chất nên cứ phải cố đóng trò để duy trì độc Đảng độc quyền, suốt ngày đóng trò, cả năm đóng trò, ở đâu cũng thấy các vai hề, ở đâu cũng thấy các trò lừa bịp. Suốt ngày đêm, suốt năm tháng cũng lúc nào cũng chỉ nghe thấy những lời nói dối, nói lừa.”

    Ngoài ra vụ án liên quan đến ông Hà Sỹ Phu cũng có bàn tay của Võ Văn Kiệt. Đó là vụ án “cố ý làm lộ bí mật nhà nước” xảy ra năm 1995 khi Võ Văn Kiệt đương giữ chức Thủ tướng, trong đó tài liệu được coi là “bí mật nhà nước” là bức thư của đương kim Thủ tướng Võ Văn Kiệt gửi cho Bộ Chính trị đề ngày 09/08/1995. Nhưng, xét từ hình thức đến nội dung, bức thư đó không thuộc qui định tài liệu Tối mật của các qui phạm pháp luật đương thời (Pháp lệnh về Bảo vệ bí mật Nhà nước, Qui chế Bảo vệ bí mật Nhà nước ban hành kèm theo Nghị định 84/HĐBT ra ngày 9/3/1992). Bức thư vừa kể còn được phổ biến khá rộng rãi trong dân chúng vào trước khi xảy ra vụ án và chính ông Hoàng Hữu Nhân, cựu Bí thư thành ủy Hải Phòng, một cán bộ cộng sản lão thành, đã viết lên bản sao của bức thư đó rằng: “Chẳng có gì đáng gọi là “bí mật quốc gia”. Không đăng báo, phát thanh là một thiếu sót.”

    Những “bị cáo” nạn nhân trong vụ án đó là ông Lê Hồng Hà, Đại tá công an về hưu, ông Nguyễn Kiến Giang, cựu Phó giám đốc Nhà xuất bản Sự thật và ông Nguyễn Xuân Tụ (tức Hà Sĩ Phu), Phó tiến sỹ sinh học, cựu Phó giám đốc Phân viện Khoa học Việt Nam tại Đà Lạt. Cả ba người đều bị kết tội với các án tù dài ngắn khác nhau vì bị cáo buộc rằng đã “cố ý làm lộ bí mật nhà nước” là bức thư kể trên. Vụ án đã gây nên nhiều bất bình, phẫn nộ nơi dư luận trong, ngoài nước. Nhiều cán bộ cộng sản lão thành cũng đã lên tiếng bênh vực hay vận động để ủng hộ các bị cáo. Nhưng đương kim Thủ tướng Võ Văn Kiệt hoàn toàn im lặng. Bản thân ông Lê Hồng Hà, vào tháng 01/1998, sau khi ra tù, đã có đơn thư khiếu nại gửi tới các cơ quan tư pháp, tòa án và đồng kính gửi tới chính cá nhân cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt (lúc đó đang giữ chức Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam để đòi hỏi minh oan. Nhưng phản hồi cho lá đơn đó vẫn là sự im lặng, của những nơi, những cá nhân được gửi, từ đó cho tới tận hôm nay.

    (Xin xem tiếp Võ Văn Kiệt phần 8)

    Trả lờiXóa
  44. (Võ Văn Kiệt phần 8)

    Thứ tư, Báo Người Việt mới đây đã thuật lại một tư liệu của WikiLeaks có nói đến Võ Văn Kiệt. Trong một trích dẫn, Người Việt viết:

    “Một nguồn tin ở đồng bằng sông Cửu Long cho biết, cha của Nguyễn Tấn Dũng tử nạn vì bị Hoa Kỳ hay quân đội VNCH tấn công ngay giữa lúc đang họp với hai lãnh đạo của lực lượng nổi dậy lúc đó là Lê Đức Anh và Võ Văn Kiệt.”

    Công điện giải thích: “Vẫn theo nguồn tin này, cả Lê Đức Anh và Võ Văn Kiệt tin rằng họ nợ Dũng một món ‘ân oán’, và có bổn phận phải đền bù cho Dũng. Đó là lý do tại sao, dù có lập trường đối nghịch nhau, cả hai, Lê Đức Anh thuộc thành phần bảo thủ, từng giữ chức chủ tịch nước từ năm 1992 đến 1997, và sau khi về hưu vẫn có rất nhiều thế lực; và Võ Văn Kiệt, cố Thủ Tướng và là nhân vật có khuynh hướng cải tổ nặng ký nhất, đều cùng tiếp tay hỗ trợ cho sự nghiệp chính trị của Dũng.” (8)

    Như vậy rõ ràng Võ Văn Kiệt có vai trò rất quan trọng đưa đến một Việt Nam suy đồi, đổ nát và sắp rơi hẳn vào tay Trung cộng ngày nay dưới “đưa cháu yêu” 3X của Võ Văn Kiệt.

    Thứ năm, Võ Văn Kiệt tự nhận mình là một “học trò” luôn làm theo Hồ Chí Minh. Trích dẫn bài báo trên báo Hà Nội mới của đảng có viết:

    “Về phần mình, đồng chí Võ Văn Kiệt từng bộc bạch: "Trải qua bao năm tháng suốt từ Cách mạng Tháng Tám đến ngày nay, từ những phút gian nguy giữa sống và chết, đến những ngày chia ngọt sẻ bùi từng thắng lợi... tôi càng thấm thía những bài học mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy."” (9)

    Chính vì học tập theo Hồ Chí Minh mà tư tưởng độc tài công an trị, dùng công an để bảo vệ đảng đã được chính Võ Văn Kiệt khẳng định như sau trên một bài viết trên báo điện tử chính phủ cộng sản:

    “Đồng chí ghi nhận và đánh giá cao vai trò của lực lượng Công an đối với sự nghiệp cách mạng: “Mỗi thắng lợi của cách mạng nước ta đều có đóng góp của lực lượng Công an nhân dân... Chúng ta phải quan tâm bảo vệ vững chắc chế độ chính trị và những thành quả cách mạng đã giành được. Công an nhân dân có vai trò rất quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ chính trị có ý nghĩa sống còn này” - Phát biểu tại Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày thành lập Công an nhân dân Việt Nam (19/8/1945-19/8/1995).

    Và: “Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ, sự quan tâm chỉ đạo toàn diện công tác công an của đồng chí Võ Văn Kiệt, lực lượng Công an nhân dân đã ngày một lớn mạnh, trưởng thành, xứng đáng là lực lượng nòng cốt, xung kích trên mặt trận bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; xứng đáng là “thanh bảo kiếm” bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, thực hiện những mong muốn lúc sinh thời của Đồng chí: “Lực lượng Công an phải thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là công cụ, là “thanh bảo kiếm” của Đảng”.” - Phát biểu của Võ Văn Kiệt tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 52 (tháng 1/1997). (10)

    Với việc dùng từ “Thanh kiếm bảo vệ đảng” đã cho thấy Võ Văn Kiệt cũng chẳng khá hơn là mấy so với các lãnh tụ cộng sản khác khi chủ trương dùng công an bảo vệ đảng mà không bảo vệ dân. Điều này cho thấy những “suy tư” cuối đời của ông ta chỉ là giả tạo.

    (Xin xem tiếp Võ Văn Kiệt phần 9 - Phần Kết)

    Trả lờiXóa
  45. (Võ Văn Kiệt phần 9 - Phần Kết)

    IV. Kết Luận

    Năm 1991, khi thăm chính thức Thái Lan ông Võ Văn Kiệt nói: “Chúng tôi tự hào đã đánh thắng 3 đế quốc to”. Thủ tướng Thái Lan đáp lời: “Chúng tôi tự hào vì không phải đánh nhau với đế quốc to nào cả”. Điều đó cho thấy ông ta vẫn tự hào với những chiến công phi nghĩa gây nhiều đau thương cho dân tộc. Mặc dù sau này khi về già ông ta có câu nói vuốt đuôi “Mỗi dịp 30 tháng tư có triệu người vui thì cũng có triệu người buồn”. Tuy nhiên điều đó không nói lên điều gì cả vì nó giống tất cả sự phản tỉnh của các ông lãnh đạo cộng sản sau khi đã cướp bóc đủ đầy của nhân dân mà thôi.

    Cả một đời Võ Văn Kiệt tham gia cộng sản, tham gia những chiến dịch khủng bố của đảng CSVN trong vai trò chóp bu lãnh đạo, đánh phá và ăn cướp miền Nam sau đó là lên chức dùng công an trị để đàn áp nhân quyền thông qua các vụ bắt bớ và quyết định cụ thể. Điều đó cho thấy tội ác của Võ Văn Kiệt không hề nhỏ và những ai chạy tội cho Võ Văn Kiệt như cuốn “Bên Thắng Cuộc” của Huy Đức thì thật thiếu trung thực và ngay thẳng. Một người theo cộng sản đến cuối đời với những tội ác tày trời là không thể tha thứ. Duy có điều Võ Văn Kiệt là kẻ ăn cướp biết chùi mép mà thôi. Tuy nhiên, lịch sử không cho phép nói dối và không thể nào xóa được tội ác của cộng sản nói chung và Võ Văn Kiệt nói riêng. Chính vì vậy cộng sản càng cho thấy đúng là không thể sửa chữa mà phải loại bỏ hoàn toàn.

    16/08/2013
    Đặng Chí Hùng

    Trả lờiXóa

 
Nhân quyền © 2012 | Designed by True Happy
.