on 19:12:00

Võ Nguyên Giáp - Người thầy viết nên trang sử vàng cho dân tộc Việt Nam

Nhãn: , ,

Quỳnh Vũ!
Tình yêu đất nước trong tôi bắt nguồn từ tình yêu quê hương đất nước, nó được tô đậm thêm, mãnh liệt hơn, da diết hơn bởi những trang sử hào hùng, vẻ vang của dân tộc, đó là một chân lý mà tôi chiêm nghiệm ra cho đến lúc bấy giờ. Không biết các bạn có giống tôi không?
Tôi yêu Việt Nam bởi đây là quê hương của tôi, nơi chôn nhau cắt rốn của tôi, tôi yêu Việt Nam bởi nó có những trang sử hào hùng, vẻ vang mà cả thế giới ngưỡng mộ và tôi tự hào vì điều đó. Học lịch sử tôi biết được lịch sử hình thành con người, lịch sử hình thành dân tộc, căn nguyên của tình hình đất nước thời bấy giờ và chính học lịch sử mà tôi có động lực để phấn đấu vươn lên, để xây dựng đất nước, tiếp bước truyền thống hào hùng của cha ông cho rạng danh non sông đất nước. Và tôi tìm được sự đồng cảm, nhận ra được điều đó qua chân dung một người thầy giáo lịch sử, và cũng chính là nhân vật trong những trang sử mà tôi học từ thuở bé đến bây giờ. Vâng! Không ai khác đó chính là chân dung đại tướng Võ NGuyên Giáp.
Võ Nguyên Giáp (25 tháng 8 năm 1911– 4 tháng 10 năm 2013) là một nhà chỉ huy quân sự và nhà hoạt động chính trị Việt Nam. Là Đại tướng đầu tiên, Tổng tư lệnh tối cao của Quân đội Nhân dân Việt Nam, là vị chỉ huy chính trong Chiến tranh Đông Dương (1946–1954) và chiến tranh Việt Nam (1960–1975). Người cũng trực tiếp hoặc tham gia chỉ huy nhiều chiến dịch quan trọng như Chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950, Trận Điện Biên Phủ (1954), Chiến dịch Tết Mậu Thân (1968), Chiến cục năm 1972, Chiến dịch Hồ Chí Minh (1975), Chiến tranh Đông Dương lần 3 (1979).
Xuất thân là một giáo viên dạy sử, nhà báo, người trở thành một chính trị gia và tướng lĩnh quân sự nổi bật trong lịch sử Việt Nam với các chức vụ Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Chỉ lướt qua cuộc đời, sự nghiệp của người chúng ta đã thấy được cả quãng đời là sự cống hiến cho độc lập dâ tộc, cho hạnh phúc của nhân dân. Mỗi trận chiến người cầm quân chỉ huy là cả một nghệ thuật quân sự tài tình. Mỗi đường đi nước bước của trận chiến như đã được tiên liệu trước kỹ càng, chính xác nên kết quả là “một một” . Do đâu mà có như vậy? Theo tôi nhận thấy, ngoài bộ óc thiên tài, trái tim nhân hậu để làm nên những trận chiến vang dội như vậy thì còn có tình yêu đất nước hun đúc qua tình yêu lịch sử dân tộc.
Phải chăng là số phận! Yêu lịch sử, người truyền tinh thần dân tộc cho học sinh qua những bài giảng, và chính điều đó đã thấm sâu vào tâm tưởng của người nghệ thuật dùng binh của các vị tướng thời xa xưa, nghệ thuật chiến tranh nhân dân qua các thời đại, sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc dù rằng địch mạnh ta yếu dù rằng phải lấy ít địch nhiều, dù rằng cách xa nhau cả một phương thức sản xuất; bởi vậy chúng ta có những chiến đánh mà nắm chắc phần thắng trong tay, những chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
Tình yêu lịch sử của người cũng bắt nguồn từ những câu chuyện mẹ kể hằng đêm. Từ một gia đình nề nếp gia phong mà nghèo khó. Gia đình cụ Nghiêm thuộc diện nghèo trong làng, quanh năm phải vay nợ nặng lãi của các nhà giàu như nhà Khóa Uy, một Hoa kiều giàu có ở làng Tuy Lộc kề bên. Võ Nguyên Giáp đã có lần theo mẹ chèo thuyền chở thóc đi trả nợ. Tuy còn nhỏ tuổi, nhưng những câu chuyện đêm đêm mẹ kể cho cậu nghe về tướng quân Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vương, kêu gọi các sĩ phu và dân chúng đứng lên chống Pháp bảo vệ non sông, còn cha nói về phong trào đánh Pháp qua bài vè “Thất thủ kinh đô” đầy cảm động, đã gieo vào lòng cậu bé những ấn tượng không bao giờ phai mờ, góp phần nuôi dưỡng ý chí cho sự nghiệp cách mạng sau này. Cha ông là một nhà Nho nên dạy dỗ con cái rất nghiêm cẩn trong sinh hoạt gia đình và học hành, giữ gìn nề nếp gia phong của đạo Khổng. Ông khuyên dạy con: "Chữ Nho là chữ của Thánh hiền, là nho sinh, các con không được nghịch ngợm, dẫm đạp lên sách vở chữ Nho". Ông dạy đám học trò cùng hai con ông: Tạm thiện tự, Ngũ thiên tự và cả Ấu học tân thư. Năm tháng học chữ Nho không nhiều nhưng những đạo lý học được trong các sách của Thánh hiền Nho gia, đặc biệt là Ấu học tân thư, đã có ảnh hưởng sâu sắc trong cả cuộc đời ông. ảnh hưởng bởi gia đình, ảnh hưởng từ lịch sử dân tộc mà đã làm nên một con người của thời đại.
Hiểu lịch sử dân tộc và chính người đã viết nên những trang sử đẹp nhất cho Tổ Quốc ta ở thời đại thế kỷ XX, những trang sử vàng chói lóa, những thành vách mà không một ai có thể nào lay chuyển được, nhờ có người mà những bức tường thép sức mạnh “Vũ Khí Tối Tân HIện Đại” của thời đại bấy giờ tưởng chừng như không thể nào phá vỡ thì bây giờ sụp đổ, lung lay tận gốc rễ.
Hiện thân cho lịch sử Đại tướng Võ Nguyên Giáp mang đến sức mạnh cho cả dân tộc ta, sức mạnh thời đại hội tụ theo tinh hoa đất trời ngàn năm. Dân tộc ta đời đời không bao giờ quên công lao của người, lại càng yêu thêm những trang lịch sử dân tộc. Lại càng yêu thêm tổ quốc Việt Nam, lại càng yêu thêm sự hòa bình, nền độc lập của Tổ Quốc ngày nay.

123 nhận xét:

  1. Nhận xét này đã bị quản trị viên blog xóa.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. NHỮNG SỰ THẬT CẦN PHẢI BIẾT (phần 19) - SỰ THẬT VỀ VÕ NGUYÊN GIÁP

      Do sinh ra và lớn lên trong môi trường xã hội chủ nghĩa nên từ nhỏ tôi cũng bị nhồi sọ và tuyên truyền những điều dối trá. Khi tôi tìm tài liệu và biết về sự thật thì tôi hiểu ra rằng mình đã bị nhồi sọ bởi một chương trình nói láo có hệ thống. Tuy nhiên lúc đó tôi vẫn còn thần tượng một phần nào đó ông Võ Nguyên Giáp. Tôi coi trọng ông Giáp hơn rất nhiều Hồ Chí Minh. Nhưng... cách đây 6 năm thì sau khi đã tìm hiểu đầy đủ tài liệu tôi chợt nhận ra ông Giáp cũng không khác gì các lãnh tụ cộng sản khác. Vì vậy, hôm nay tôi sẽ phải viết về ông Giáp như một nhận thức đúng đắn nhất về ông ta đó là một vị tướng: Không có tài và coi thường sinh mạng của nhân dân.

      I. Đôi điều về con người Võ Nguyên Giáp:

      Đầu tiên xin mời bạn đọc xem qua tài liệu về tiểu sử của ông Giáp trên website của Quảng Bình (1):

      “Tóm tắt tiểu sử-Đại tướng Võ Nguyên Giáp:

      1. Họ và tên (bí danh): Võ Nguyên Giáp (Văn)
      2. Năm sinh: Ngày 25/8/1911.
      3. Cấp bậc, chức vụ cao nhất: Đại tướng, Phó thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
      4. Quê quán: Làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình
      5. Trú quán: Phố Hoàng Diệu, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
      6. Thành phần: Nhà nho yêu nước.
      7. Năm tham gia cách mạng: Năm 1925.
      8. Năm nhập ngũ: Năm 1944.
      9. Ngày vào Đảng - Chính thức: Năm 1940.
      10. Năm phong quân hàm cấp tướng: Đại tướng năm 1948.
      11. Quá trình tham gia cách mạng

      Đồng chí tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1925 khi mới 14 tuổi. Năm 1929, đồng chí tham gia cải tổ Tân Việt Cách mạng Đảng thành Đảng Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Năm 1930, đồng chí bị thực dân Pháp bắt giam vì tham gia các cuộc biểu tình chống Pháp. Không có chứng cớ, cuối cùng, chúng buộc tha đồng chí. Đồng chí tiếp tục hoạt động cách mạng trên mặt trận văn hóa, viết bài cho những tờ báo công khai như: Tin tức, Nhân dân, Tiếng nói của chúng ta, Lao động, làm biên tập viên cho các tờ báo của Đảng, dạy sử, địa cho Trường tư thục Thăng Long.

      Năm 1934, đồng chí kết duyên với Bà Nguyễn Thị Minh Thái, một Đảng viên Cộng sản, cộng sự đắc lực của đồng chí. Trong những năm tháng hoạt động bí mật, hai vợ chồng đồng chí sống ở số nhà 46 phố Nam Ngư, Hà Nội. Sau này, Bà Nguyễn Thị Minh Thái bị thực dân Pháp bắt, giết chết bà trong ngục nhà tù Hỏa Lò. Từ năm 1936 đến 1939, đồng chí tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, biên tập viên các tờ báo của Đảng, Chủ tịch Ủy ban báo chí Bắc Kỳ trong phong trào Đông Dương đại hội.

      Năm 1939, đồng chí cùng đồng chí Phạm Văn Đồng sang Trung Quốc gặp Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Được sự dìu dắt của Người, năm 1940, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 5 năm 1941, đồng chí trở về Cao Bằng, tham gia gây cơ sở cách mạng, lập ra Mặt trận Việt Minh, tham gia chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang ở căn cứ địa Cao - Bắc - Lạng. Năm 1942, đồng chí phụ trách Ban Xung phong Nam tiến, dùng hoạt động tuyên truyền vũ trang mở đường liên lạc giữa miền núi với đồng bằng Bắc Bộ.

      Tháng 12/1944, đồng chí được Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân. Ngày 22/12/1944, tại một khu rừng ở châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã ủy nhiệm cho đồng chí đứng ra tuyên bố thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay. Đồng chí được giao nhiệm vụ trực tiếp lãnh đạo và chỉ huy.

      Tháng 3/1945, đồng chí đưa Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tiến xuống phía Nam, hội quân với đội Cứu quốc quân của đồng chí Chu Văn Tấn ở vùng chợ Chu, Thái Nguyên để thống nhất tổ chức thành Việt Nam giải phóng quân.

      Ngày 4/8/1945, đồng chí là Ủy viên Ủy ban Quân sự Cách mạng Bắc Kỳ, làm Tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang thống nhất mang tên Việt Nam Giải phóng quân, tham gia Ủy ban Chỉ huy Lâm thời khu Giải phóng Việt Bắc.

      (Xin xem tiếp phần 2)

      Xóa
  2. Nhận xét này đã bị quản trị viên blog xóa.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. (Phần 2)

      Đồng chí được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ II, cử vào Ban Chấp hành Trung ương và là Ủy viên Thường vụ ban Chấp hành Trung ương, tham gia Ủy Ban Khởi nghĩa toàn quốc, Ủy ban Giải phóng Dân tộc Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ Lâm thời.

      Tháng 1/1946, đồng chí được cử là Chủ tịch quân sự, Ủy viên hội đồng trong Chính phủ Liên hiệp, Phó trưởng đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đàm phán với Pháp tại Hội nghị ở Đà Lạt. Năm 1946, đồng chí kết hôn với Bà Đặng Thị Bích Hà (Con gái cố Giáo sư Đặng Thai Mai).

      Ngày 20/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 110/SL, phong đồng chí làm Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày 27/10/1948, Ban Thường vụ Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương ra Nghị quyết: “Lập chế độ chính trị ủy viên, đại diện chỉ huy kiêm Chính ủy. Tháng 6/1950, có Nghị quyết của Thường vụ Trung ương Đảng chấn chỉnh tổ chức thành Bộ Quốc phòng, đồng chí là Tổng tư lệnh, Tổng chính ủy, Bí thư Quân ủy Trung ương. Đồng chí đảm nhiệm các cương vị trên từ năm 1945 đến năm 1975.

      Về Đảng, đồng chí liên tục được bầu là Ủy viên Trung ương Đảng các khóa II (năm 1951), đến khóa VI (Ngày 20/12/ 1986), làm Ủy viên Bộ Chính trị các khóa từ khóa II đến khóa VI. Đồng chí là đại biểu Quốc hội từ khóa I (năm 1946) đến khóa VI (Năm 1986). Trong kháng chiến chống Pháp, đồng chí trực tiếp chỉ huy các chiến dịch lớn: Biên Giới năm 1950, Điện Biên Phủ năm 1954.

      Trong kháng chiến chống Mỹ, đồng chí cùng Bộ Chính Trị chỉ đạo các chiến dịch lớn ở miền Nam Việt Nam, trong đó có Chiến dịch Hồ Chí Minh, chỉ đạo cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam.

      Năm 1980, đồng chí thôi giữ chức Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, rút khỏi Bộ Chính trị năm 1982. Cuối năm 1983, đồng chí được cử làm Chủ tịch Ủy ban sinh đẻ có kế hoạch. Cuối năm 1993, đồng chí được suy tôn làm Chủ tịch danh dự Hội Cựu chiến binh Việt Nam….

      12. Phần thưởng được Đảng, Nhà nước trao tặng:

      - Huân chương Sao vàng.
      - Hai Huân chương Hồ Chí Minh.
      - Hai Huân chương Quân công hạng nhất.
      - Huân chương Chiến thắng hạng nhất.
      - Huân chương Chiến công hạng nhất.
      - Huân chương Kháng chiến hạng nhất.
      - Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất.
      - Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

      Đồng chí được Nhà nước Lào tặng Huân chương vàng Quốc gia Lào, Nhà nước Campuchia tặng Huân chương Ăng Co. Đồng chí được Đảng, Chính phủ các nước tặng nhiều Huân chương cao quý.”

      Đọc qua tiểu sử của ông Giáp chúng ta thấy ông ta có một quá trình tham gia cộng sản khá lâu dài cho đến ngày hôm nay. Và chính ông Giáp có vai trò rất quan trọng trong việc gây ra hàng triệu cái chết trong chiến tranh “sinh bắc tử nam” mà chúng ta đã biết. Như vậy cũng giống như các lãnh tụ cộng sản khác, ông Giáp có tội gây ra chiến tranh tàn khốc theo lệnh của Trung Cộng. Tuy nhiên ông ta cũng đã được thêu dệt bằng những huyền thoại như tướng tài, tướng thương quân. Nhưng sự thật lại không phải như vậy. Mời bạn đọc theo dõi những tài liệu dưới đây để thấy điều đó.

      Trước khi đi vào chi tiết cụ thể về những “thực tài” của ông Giáp, chúng ta hãy xem lý lịch bất minh của ông Giáp mà ngày nay đã có tài liệu sáng tỏ ông ta từng là con nuôi của mật thám Pháp. Có ít nhất 3 tài liệu trong số vô vàn tài liệu mà tôi xin gửi đến bạn đọc ở đây để chứng minh cho sự bất minh cho lý lịch của ông Tướng.

      (Xin xem tiếp phần 3)

      Xóa
  3. Nhận xét này đã bị quản trị viên blog xóa.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. (Phần 3)

      Thứ nhất, theo ông Trần Quỳnh - một chức sắc lãnh đạo có thẩm quyền cộng sản, có uy tín cá nhân - viết lại về việc Trường Chinh đến thăm ông Đặng Thái Mai như sau: “Thời kỳ trước Cách mạng tháng tám, một lần Trường Chinh đến nhà Đặng Thái Mai có việc. Thấy Mai đang cầm đọc một lá thư, Đăng Thái Mai bị bất ngờ, Trường Chinh lướt qua bức thư mới kịp thấy tiêu đề của thư là chánh mật thám, chữ ký là Mạc-Ti và câu đầu: “Các con thân ái Mai và Giáp” (Mes chers enfants Mai et Giap). Mai ngước lên nhìn thấy Trường Chinh vội vàng nhét thư vào túi áo... Giáp là con người xảo trá- khi tôi từ miền Nam, khi nói chuyện riêng, Giáp hay nói xấu Bác, nhưng trước mặt Bác, Giáp hay nịnh Bác”. (Hồi ký Trần Quỳnh: Những kỷ niệm về Lê Duẩn, 30-07-1986).

      Thứ hai, ông Hoàng Văn Chí trong cuốn “Từ thực dân đến cộng sản” viết đầy đủ và rõ ràng hơn như sau: “Mai (Đặng Thái Mai) và Giáp đều là “con nuôi” của Louis Marty, giám đốc phòng chính trị của Phủ Toàn Quyền. Marty kiếm việc cho Mai dạy học ở trường Gia Long mà giám đốc là Bailey, một người Pháp, và giao Giáp, hãy còn là sinh viên, cho Mai trông coi. Trong khi những đảng viên Tân Việt khác bị tù đầy hoặc cầm cố thì hai người ung dung sống ở Hà Nội cho đến ngày Giáp được Pháp đưa sang Tàu theo Việt Minh chống Nhật. Giáp có theo học lớp “chiến tranh du kích” do Mỹ mở ở Tỉnh Tây, nhưng không bao giờ lên Diên An. Giáp và Mai coi nhau như “anh em kết nghĩa”, nhưng sau khi vợ Giáp chết trong tù, Giáp lấy cô Hà, con gái Mai kém Giáp gần 20 tuổi mà trước kia Giáp vẫn bế trong tay hồi còn là chú cháu”.

      Thứ ba, cuốn sách của Cecil B. Currey, nhan đề: “Victory at any cost: The Genius Of Viet Nam’s Gen. Vo Nguyên Giáp” ghi lại đầy đủ chi tiết và trung thực hơn cả. Xin được tóm tắt như sau: “Vào năm 1930, mật thám Pháp đã bắt một số người tình nghi hoạt động chống Pháp cùng với một số người khác trong đó có anh của Võ Nguyên Giáp là Võ Thuần Nho, Đặng Thái Mai, một giáo sư văn chương tại Quốc Học và một nữ sinh 15 tuổi tên Nguyễn Thị Quang Thái, nữ sinh Đồng Khánh. Người mà sau này là vợ của Võ Nguyên Giáp... Đặng Thái Mai bị kết án 4 năm tù, Nguyễn Thị Quang Thái, hai năm tù. Riêng Võ Nguyên Giáp vì chứng cớ hoạt động không rõ ràng, nhưng quan tòa cũng xin xử phạt 2 năm tù khổ sai... Năm 1933, Đặng Thái Mai ra Hà Nội nhận dạy học ở trường Thăng Long, VNG ra Bắc theo... Với một án tù chính trị như thế, con đường học của Võ Nguyên Giáp là không thể có được nếu không có sự giúp đỡ của Louis Marty. Trong việc tiếp xúc giữa Marty và VNG, Marty đã khuyên Giáp quay trở lại việc học và chuẩn bị cho việc thi tú tài 1 và 2. Chắc hẳn Marty đã ngầm giúp đỡ để Giáp có thể vào học ở trường Albert Sarraut”.

      (Xin xem tiếp phần 4)

      Xóa
  4. Nhận xét này đã bị quản trị viên blog xóa.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. (Phần 4)

      II. Một vị tướng không có thực tài:

      1. Ông tướng chưa học quân sự:

      Ông Giáp được ca tụng là một chỉ huy quân sự tài ba, lỗi lạc, thậm chí được cộng sản so sánh với đức thánh Trần Hưng Đạo. Nhưng có một điều là ông ta chưa học qua một khóa huấn luyện quân sự chuyên nghiệp nào. Để chứng minh điều này có 2 tài liệu sau đây:

      Thứ nhất, cũng trên trang web của tỉnh Quảng Bình có đoạn viết về Võ Nguyên Giáp như sau: “Từ 1936 đến 1939, Võ Nguyên Giáp tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, là sáng lập viên của mặt trận và là Chủ tịch Ủy ban Báo chí Bắc Kỳ trong phong trào Đông Dương đại hội. Ông tham gia thành lập và làm báo tiếng Pháp Notre voix (Tiếng nói của chúng ta), Le Travail (Lao động), biên tập các báo Tin tức, Dân chúng. Tháng 5 năm 1939, Võ Nguyên Giáp nhận dạy môn lịch sử tại Trường Tư thục Thăng Long, Hà Nội do Hoàng Minh Giám làm giám đốc nhà trường. Ngày 3 tháng 5 năm 1940, Võ Nguyên Giáp với bí danh là Dương Hoài Nam cùng Phạm Văn Đồng lên Cao Bằng rồi vượt biên sang Trung Quốc để gặp Hồ Chí Minh. Ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương trong năm này và bắt đầu các hoạt động của mình trong Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội, một tổ chức chống phát-xít và đấu tranh cho độc lập của Việt Nam. Ông tham gia xây dựng cơ sở cách mạng, mở lớp huấn luyện quân sự cho Việt Minh ở Cao Bằng. Ngày 22 tháng 12 năm 1944, theo hướng dẫn của Hồ Chí Minh, ông thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tại chiến khu Trần Hưng Đạo với 34 người, được trang bị 2 súng thập (một loại súng ngắn), 17 súng trường, 14 súng kíp và 1 súng máy. Đây là tổ chức tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam.” (2)

      Đọc qua đoạn trích tiểu sử ông Giáp chúng ta không hề thấy ngày tháng nào ông Giáp học quân sự nhưng lại thành lập quân đội và “huấn luyện quân sự”. Ông Giáp sẽ dạy gì cho lính nếu ông ta mù tịt về quân sự khi chưa có giờ phút nào học nó? Có lẽ cái này ông Giáp là hiểu nhất.

      Thứ hai, trên trang Infonet của Bộ Thông tin Truyền thông của cộng sản có viết bài về cuốn sách “Chiến thắng bằng mọi giá” của 1 tác giả Mỹ như sau: “Dưới ngòi bút của sử gia người Mỹ, Võ Nguyên Giáp được xem là gương mặt quân sự đặc biệt nhất của thế kỷ XX. Theo ông, tướng Giáp dù không qua trường lớp đào tạo về quân sự, song những chiến công của Võ Nguyên Giáp và quân đội Việt Nam quả là huy hoàng, không chỉ đơn thuần về mặt quân sự mà còn là những trận toàn thắng về chính trị.” (3)

      Bỏ qua sự ca tụng mà truyền thông lề đảng vẫn làm khi viết về ông Giáp và các nhà lãnh đạo cộng sản mà sự thật chúng ta sẽ thấy ở phần sau của bài viết thì có một thực tế là ông Giáp chưa bao giờ qua trường lớp quân sự nào. Thật là một chuyện không thể có nếu không học qua quân sự lại biết về quân sự và tài tình như cộng sản thêu dệt. Cộng sản có thể lý luận ông Giáp cũng có thể như Khổng Minh trong Tam Quốc. Nhưng chúng ta phải nên nhớ Khổng Minh là một thiên tài đã đọc hết các sách binh thư, ngoài ra còn được bố vợ và vợ hết lòng chỉ giáo. Bởi vậy một kẻ không học qua sách vở, trường lớp quân sự không thể là kẻ thiên tài như cộng sản ca tụng. Và bằng chứng bằng sự thật đã khẳng định điều đó là đúng.

      (Xin xem tiếp phần 5)

      Xóa
  5. Nhận xét này đã bị quản trị viên blog xóa.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. (Phần 5)

      2. Tài năng vay mượn:

      Tướng Giáp luôn được ca ngợi ông ta chỉ huy nhiều trận thắng vang dội nhưng sự thật lại hoàn toàn ngược lại. Hãy tìm hiểu những tài liệu sự thật để thấy ông Giáp nằm ở đâu trong những “thắng lợi” của quân đội cộng sản.

      Trong số 8 tội mà liên minh Đỗ Mười - Lê Đức Anh đã tố ông Giáp thì có đến 4 tội trong quân sự đó là: “Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông Giáp hèn nhát, sợ chết quanh quẩn trong hầm, không dám ra ngoài. Nguyễn Chí Thanh mới chính là người chỉ huy chiến dịch. Ông Giáp nhận định tình hình kém, vội vàng giải tán 80.000 quân, để khi Pháp - Mỹ trở lại thì không có đủ quân chống đỡ. Tết Mậu Thân 1968 ông Giáp nhận định rằng Mỹ sẽ dùng bom nguyên tử đánh Hà Nội, nên xin đi nghỉ ở Moscow để lánh nạn. Ông Giáp hèn nhát, sợ B-52 của Mỹ rải thảm, nên không đi B (chưa bao giờ dám đặt chân vào chiến trường miền Nam trước 1975).” Và cơ bản những điều Đỗ Mười, Lê Đức Anh nói đều đúng không sai.

      a. Trận chiến Điện Biên Phủ:

      Thứ nhất, để minh chứng cho việc Vi Quốc Thanh - một tướng Trung Cộng tham gia chiến tranh với Pháp và đặc biệt tại Điện Biên Phủ đã chỉ huy quân đội cộng sản, tôi xin gửi tới bạn đọc bằng chứng được chính quyền cộng sản công bố. Ví dụ như trong bài viết về Vi Quốc Thanh trên website của sở Khoa học và công nghệ tỉnh Nghệ An: “Mối quan hệ tốt đẹp giữa Bác Hồ với Vi Quốc Thanh được thiết lập từ hồi kháng chiến chống Pháp đầu những năm 50 của thế kỷ XX - khi mà Vi Quốc Thanh sang làm Trưởng đoàn Cố vấn quân sự Trung Quốc tại Việt Nam theo sự phân công của Đảng và Nhà nước Trung Quốc.” (4)

      http://4.bp.blogspot.com/-JcK8b1l2kns/Uiipd_5SJ6I/AAAAAAABYWk/7nTl7LcfcHw/s400/temp-danlambao-44.png
      (Hình trên) - Tướng Phùng Quang Thanh và Đoàn VN chụp ảnh lưu niệm với đại diện thân nhân gia đình các tướng Tàu - Trần Canh, Vi Quốc Thanh và Hồng Thủy

      Thứ hai, báo quân đội nhân dân của nhà cầm quyền cộng sản dịch một bài viết của báo Trung cộng ca ngợi công lao của Vi Quốc Thanh và đàn em La Quý Ba, Trần Canh tại chiến dịch Điện Biên Phủ như sau: “Về vấn đề làm cố vấn như thế nào, Mao Chủ tịch nói: “Cố vấn thì là cố vấn, nhưng trên thực tế chính là tham mưu, làm tham mưu tốt cho các đồng chí lãnh đạo của người ta. Tham mưu chính là đề xuất chủ trương, nghĩ biện pháp, hiệp tác giúp đỡ lãnh đạo... Trung tuần tháng 6 năm 1950, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc cử đồng chí Trần Canh làm đại biểu sang Việt Nam, giúp đỡ tổ chức thực thi chiến dịch Biên Giới. Sau khi đến Việt Nam, đồng chí Trần Canh lập tức hội kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh, báo cáo với Hồ Chủ tịch ý tưởng tác chiến tại biên giới đã suy nghĩ suốt dọc đường, đồng thời lập tức bôn tập ra tiền tuyến cùng với đồng chí Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt nam trù hoạch tỷ mỉ kế hoạc tác chiến... Về chiến dịch Điện Biên Phủ khi đó Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Tổng chỉ huy chiến dịch. Đồng chí Vi Quốc Thanh là Tổng cố vấn quân sự. Cố vấn quân sự các cấp của phía Trung Quốc ra tiền tuyến dốc toàn lực hiệp tác giúp đỡ...” (5)

      Qua đoạn trích chúng ta thấy gì? Đó là suốt từ chiến dịch biên giới 1950 cho đến Điện Biên Phủ ông Giáp không phải là người đưa ra quyết sách mà hoàn toàn là người thi hành những cố vấn hay nói cách khác là chỉ đạo của Trung cộng thông qua La Quý Ba, Trần Canh và Vi Quốc Thanh. Trong quân sự người tham mưu là tài tình nhất nhưng ông Giáp lại đơn thuần chỉ là kẻ ấn nút sau khi đã có kẻ khác lập trình sẵn. Phải chăng đây là cái “tài” của ông Giáp?

      (Xin xem tiếp phần 6)

      Xóa
  6. Nhận xét này đã bị quản trị viên blog xóa.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. (Phần 6)

      http://2.bp.blogspot.com/-s1VTGfbco-o/UiiqNXsp_2I/AAAAAAABYWw/7WH8A9ZZ7zg/s400/temp-danlambao-44.jpg
      (Hình trên) - Võ Nguyên Giáp và Trần Canh

      Thứ ba, tác phẩm “Mao chủ tịch của tôi” của tác giả người Trung cộng - Hà Cẩn (Xin xem thêm “Những sự thật không thể chối bỏ” - phần 11, 12) có viết về sự kiện Điện Biên Phủ tại trang 134 như sau: “Bằng sự sáng tạo của Mao chủ tịch trong việc đưa tới Việt Nam các đồng chí cố vấn mà chiến dịch đã kết thúc thắng lợi với vai trò chính yếu thuộc về thượng tướng Vi Quốc Thanh”.

      http://3.bp.blogspot.com/-QIm_xoohaWc/UiirEHZPWLI/AAAAAAABYW8/mfmzJ_xh1cU/s400/temp-danlambao-44.png
      (Hình trên) - Từ người thứ nhì (bên trái sang): Hoàng Quốc Việt, Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng, Lý Hàm Trân (火腿陳) vợ Lã Quý Ba. Hồ Chí Minh, x, Đại tướng bí danh Lã Quý Ba (罗贵波), Trường Chinh, x... Ảnh chụp tại An Toàn Khu. Nguồn: Hoa Nam MSS.

      http://3.bp.blogspot.com/-IB425cnJ1dw/UiirQlVbmlI/AAAAAAABYXE/bRnY6XMg2JU/s400/temp-danlambao-44.png
      (Hình trên) - Tướng Tầu cộng Trần Canh đang chỉ bảo bộ đội Việt Minh trước khi ra trận.

      Thứ tư, trong cuốn “Đường tới Điện Biên Phủ” của Võ Nguyên Giáp, trong chương I, chính ông Giáp đã khẳng định vài trò của tướng Trung cộng trong chiến dịch biên giới 1950 và Điện Biên Phủ sau này: “Khi trở về Bắc Kinh, Bác đề nghị Trung Quốc cử cố vấn sang giúp Việt Nam nay mai sẽ đi vào đánh lớn. Bác gợi ý bạn cử đồng chí Trần Canh. Phía Trung Quốc trả lời đồng chí Trần đã được bố trí công tác rồi, và đưa ra danh sách gồm 4 người: La Quý Ba, Trung ương ủy viên Đảng Cộng sản Trung Quốc, Trưởng đoàn cố vấn, Vi Quốc Thanh, Trưởng đoàn cố vấn về quân sự, Mai Gia Sinh, cố vấn về công tác tham mưa, Mã Tây Phu, cố vấn về công tác hậu cần.” (6)

      (Xin xem tiếp phần 7)

      Xóa
  7. Nhận xét này đã bị quản trị viên blog xóa.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. (Phần 7)

      http://4.bp.blogspot.com/-vLuTCKS5L-E/UiisAPhksKI/AAAAAAABYXQ/aStEDX023uo/s400/HCM-Co+van+TC-danlambao.gif
      (Hình trên) - Hồ Chí Minh và các cố vấn Trung cộng

      Một người chưa học qua trường lớp quân sự liệu có thể chỉ huy chiến dịch được không? Câu trả lời là không và chính vì vậy Hồ Chí Minh đã phải mời chuyên gia Trung cộng sang để vạch kế hoạc cho ông Giáp.

      Thứ năm, cuốn sách: “A reporter's love for a wounded people”của tác giả Uwe Siemon-Netto người Đức đã mô tả về ông Giáp như sau:

      “Trong một cuốn sách gây chú ý về đoàn quân Lê Dương Pháp, Paul Bonnecarrère đã kể lại cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đại tá đầy huyền thoại Pierre Charton và Tướng Võ Nguyên Giáp sau khi Pháp thất trận tại Điên Biên Phủ (Bonnecarrère. Par le Sang Versé. Paris: 1968). Charton là tù binh trong tay Cộng sản Việt Minh. Giáp đến thăm Charton nhưng cũng để hả hê. Cuộc gặp gỡ xảy ra trong một lớp học trước mặt khoảng 20 học viên đang tham dự một buổi tuyên truyền chính trị. Cuộc đối thoại giữa hai nhân vật đối chọi nhau đã xảy ra như sau:

      Giáp: “Tôi đã đánh bại ông, thưa Đại tá!"

      Charton: “Không, ông không đánh bại tôi, thưa Đại tướng. Rừng rậm đã đánh bại chúng tôi... cùng sự hỗ trợ các ông đã nhận được từ người dân bằng các phương tiện khủng bố."

      Võ Nguyên Giáp không ưa câu trả lời này và cấm các học viên không được ghi chép nó. Nhưng đó là sự thật, hay chính xác hơn: đó là một nửa của sự thật.”

      Đoạn này tác giả Netto cho thấy đánh giá của ông không chỉ đơn thuần là của ông mà bao gồm cả viên tướng Charton rằng: “Võ Nguyên Giáp chỉ thắng nhờ các yếu tố khác không phải tài năng quân sự”.

      Và Netto tiếp trong cuốn sách của mình: “Tuy nhiên tôi không thể kết thúc câu chuyện ở đây bằng điều tăm tối này được. Là một người quan sát về lịch sử, tôi biết là lịch sử, mặc dù được khép kín trong quá khứ, vẫn luôn luôn mở rộng ra tương lai. Là một Ki-Tô hữu tôi biết ai là Chúa của lịch sử. Chiến thắng của Cộng sản dựa vào những căn bản độc ác: khủng bố, tàn sát và phản bội”. Điều đó thay cho kết luận về một sự “tài hoa” giả tạo của ông Giáp.

      http://1.bp.blogspot.com/-iDsvU7FP1eQ/Uiis8VwNKXI/AAAAAAABYXc/OCX6DJxo3EY/s400/temp-danlambao-44.jpg
      (Hình trên) - Tác giả Netto người Đức viết về cộng sản và Võ Nguyên Giáp (đứng thứ 3 từ trái qua)

      Thứ sáu, mạng sống của thanh niên Việt Nam bị ông Giáp coi như cỏ rác. Ông Giáp sẵn sàng thí quân trong các trận chiến. Trong trận chiến tranh biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn năm 1950, để tiêu diệt cứ điểm Đông Khê do 262 lính Pháp trấn đóng, ông Giáp đã dùng tới 10.000 quân (đông hơn quân trú phòng 40 lần). Sau trận đánh, hơn 500 quân Việt tử trận, không kể số bị thương hàng ngàn. Trong trận đồng bằng Phủ Lý, Ninh Bình vào tháng 5 và nhất là trong trận Vĩnh Yên vào tháng 1 năm 1951, chiến thuật biển người của Giáp tại đã bị Tướng Pháp De Lattre de Tassigny dùng bom Napalm tiêu diệt. Quân Cộng sản, dưới sự chỉ huy của ông Giáp, đã bị nhiều tử vong, thất bại trong ý đồ đưa chiến tranh về đồng bằng. Số tử vong của quân đội cộng sản, khi tháo lui, là trên 6000 người. Số bị thương chắc chắn là gấp đôi, gấp ba con số 6000.

      Tại tài liệu của quân ủy quân đội cộng sản số 03 (BC - 03/QU) ngày 12/12/1953 ghi rõ: “Phía Trung Quốc nhấn mạnh Việt Minh cần giữ nguyên kế hoạch tập trung vào Tây Bắc và Lào. Lãnh đạo Trung Quốc cho rằng nếu thực thi chiến thuật này, Việt Minh có thể chuẩn bị lực lượng cho công cuộc đánh chiếm đồng bằng sông Hồng và cuối cùng sẽ đánh bại Pháp ở Đông Dương. Tháng 9, Bộ Chính trị không thông qua kế hoạch của đồng chí Võ Nguyên Giáp mà phải thực hiện theo kế hoạch của các đồng chí cố vấn Trung Quốc. Ngày 27 tháng 10 năm 1953, Đồng chí Vy Quốc Thanh trao cho chúng ta một bản sao kế hoạch của Navarre mà tình báo Trung Cộng đã thu đoạt được. Sau khi xem xét, quân ủy nhận thấy đề nghị của Trung Quốc là đúng. Toàn quân, nếu theo đúng kế hoạch của Trung Quốc, có thể phá vỡ kế hoạch của Navarre.”

      Qua đây chúng ta thấy gì? Đó là ông Giáp chỉ là hư danh mà thôi. Còn thực chất cái “tài” của ông là do có được từ các cố vấn Tầu.

      (Xin xem tiếp phần 8)

      Xóa
  8. Nhận xét này đã bị quản trị viên blog xóa.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. (Phần 8)

      Theo như tác giả Bùi Tín: “Ông Giáp thường không có thói quen ra thị sát Mặt trận. Ở trận chiến Điện Biên Phủ, người ta chỉ thấy vài bức hình chụp ông với Hồ Chí Minh, tại Bộ Chỉ huy chiến dịch - bao giờ cũng trải vài tấm bản đồ, tay thì chỉ chõ - đóng kịch - như thể đánh nhau chỉ cần chỉ chõ bằng bản đồ - và ông trú ẩn an toàn tại Bộ chỉ huy ĐBP tại hang Thẩm Púa, thuộc Mường Phăng. Hang Thẩm Púa cách Điện Biên Phủ bao nhiêu cây số, thưa đại tướng? Sau khi chiến thắng Điện Biên Phủ, ông đi thị sát mặt trận, quần áo chỉnh tề, chân đi giầy ủng cao đến đầu gối!”. Như vậy là quá đủ để nói về một vị tướng “tài” như ông Giáp thời chống Pháp.

      b. Cuộc chiến với VNCH:

      Chiến thuật của Võ Nguyên Giáp trong chiến tranh là: Chiến tranh du kích và Chiến thuật bao vậy, biển người xung phong. Về chiến tranh du kích, thì mục đích là làm cho kẻ địch suy yếu, nản lòng, để cuối cùng tiến hành một cuộc chiến quy mô lớn để chiến thắng. Võ Nguyên Giáp áp dụng bài bản, không có sáng tạo gì đặc biệt. Đây làm một chiến thuật cổ xưa mà ai cũng biết thậm chí chỉ cần qua vài quyển sách. Về chiến thuật bao vây, Võ Nguyên Giáp cũng áp dụng một cách rất sơ đẳng, không có sáng kiến gì đặc biệt. Các bước chính của chiến thuật bao vây là chặn và cắt đứt đường tiếp viện của đối phương, siết chặt vòng vây và đánh úp. Võ Nguyên Giáp thành công ở Điện Biên Phủ vì quân Pháp không đảm bảo được tiếp viện. Còn tại Khe Sanh, Võ Nguyên Giáp thảm bại vì không nắm được một yếu tố cơ bản là quân Mỹ thiết lập cầu không vận, nên việc tiếp viện không bị gián đoạn. Võ Nguyên Giáp nướng hơn 10 000 quân việt cộng và thảm bại vì lý do này... Cuối cùng là chiến thuật biển người học tập mô hình của Trung cộng chứ không phải của ông Giáp cũng khiến cho hàng triệu người chết oan uổng để tô đẹp cho thành tích của ông ta.

      Thứ nhất, theo Sắc Lệnh số 110/SL ngày 28 5/1948, Giáp được phong quân hàm Đại tướng, vị Đại tướng đầu tiên của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam lúc vừa tròn 37 tuổi. Về sau, nhân vụ phong tướng nầy, mà một ký giả ngoại quốc đã hỏi ông Hồ, dựa vào đâu, và căn cứ vào tiêu chuẩn nào để phong quân hàm cho một lúc nhiều người như vậy. Hồ Chí Minh đã trả lời, “Ai đánh thắng đại tá thì phong đại tá, thắng thiếu tướng thì phong thiếu tướng, ai đánh thắng trung tướng thì phong trung tướng, và ai đánh thắng đại tướng thì phong đại tướng”. Cũng chính vì đại tướng được phong kiểu của cộng sản mà đã gặp phải thảm bại khi gặp người Mỹ: “Năm 1968, Khi Võ Nguyên Giáp dùng 3 Sư đoàn bộ binh và trọng pháo bao vây toan lấy chiến thuật “biển người” để tiêu diệt 6,000 Thủy Quân Lục Chiến Mỹ cùng khoảng 200 tay súng Biệt Động Quân QL/VNCH trên đồi Khe Sanh, Quảng Trị. Nhưng không chiếm nỗi, đổi lại Phía CS Bắc Việt bị pháo đài bay B52 trải thảm tiêu diệt từ 10 đến 15, 000 bộ đội - Đó là chưa kể thiệt hại trên các phương diện khác như quân cụ, chiến thuật, cùng hàng ngàn thương binh”. (Tom Carhart: Batles And Campaigns In Vietnam, tr. 130).

      Thứ hai, năm 1972, đích thân Võ Nguyên Giáp chỉ huy chiến dịch Trị-Thiên, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ (Mùa hè đỏ lửa) Trên địa hình nhỏ hẹp dài, bên núi, bên biển, Vùng Chiến thuật 1, Cùng lúc 6 sư đoàn CS Bắc Việt hành quân tiến công trong tình cảnh liên tục bị bom rải thảm B-52, pháo kích từ chiến hạm Mỹ, pháo kích từ Vùng Chiến thuật 1. Quân cộng sản bị chặn lại, chỉ chiếm được nửa phía Bắc tỉnh Quảng Trị. Theo thông tin nội bộ thì cộng sản này cho biết, trong suốt 9 tháng chiến dịch, sư đoàn 308 thương vong 70% quân số; Sư đoàn 312 đã bổ sung quân 13 đợt, mỗi đợt 500 người; sư đoàn 320 thương vong 80% quân số. Các sư đoàn còn lại tham chiến đều mất ít nhất nửa số quân. Tổng thương vong lên tới hơn 30 ngàn người (trong đó gần 14.000 hy sinh). Chiến dịch cũng khiến cộng sản tiêu tốn hơn 300.000 viên đạn pháo gần 4/5 lượng đạn pháo trong kho, dẫn đến tình trạng thiếu đạn, chỉ còn 100.000 viên cuối năm 1974. mà không có được một thành quả cụ thể chiến thắng nào. Để khẳng định điều này thì chính tài liệu của cộng sản đã khẳng định.

      (Xin xem tiếp phần 9)

      Xóa
  9. Nhận xét này đã bị quản trị viên blog xóa.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. (Phần 9)

      Trong cuốn sách có tên gọi tạm dịch ra tiếng Việt “Liên Xô - Trung Quốc và Việt Nam, vấn đề chưa được biết” của tác giả người Nga, Ruslan Kobachenko, nhà giáo kiêm nhà nghiên cứu lịch sử Châu Á từng giảng dạy tại đại học Minsk-Nga, ông cũng là đảng viên đảng cộng sản Liên Xô. Cuốn sách này đã được nhà xuất bản Lịch sử của Liên Bang Nga xuất bản năm 1995, có đoạn trong trang 240 như sau: “Về cơ bản chiến dịch tổng tấn công mùa hè năm 1972 của quân đội ông Giáp thất bại hoàn toàn mà không đem lại lợi ích nào cụ thể. Cái được lớn nhất chỉ là kinh nghiệm cho cuộc chiến sau này. Nhưng có lẽ ông Giáp là người phải chịu trách nhiệm cao nhất cho cái chết của hơn 15 nghìn người lính...”

      Cũng là một tài liệu cộng sản khác khẳng định điều này đó là tài liệu tổng kết chiến dịch mùa hè 1972 của bộ tổng tham mưu có bí số KHTM/1972- BQP cho biết: “Chúng ta đã thiệt hại nặng nề nhất kể từ sau tổng tiến công Mậu thân năm 1968 mà cần phải một thời gian chừng 4 năm nữa mới có thể khôi phục lại...”

      Thứ ba, chính ông Giáp đã kể lại trong lần sinh nhật thứ 84 của mình như sau: “Năm 1972, còn gọi là chiến dịch đỏ lửa tại thành cổ Quảng Trị. Khi đó, tôi vẫn lấy phương châm tiến công như mọi khi: 'Lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh, lấy yếu tố bất ngờ để tạo thế chủ động, khiến địch trở tay không kịp'. Cứ dùng chiến tranh du kích tiêu diệt hàng ngày, hàng giờ, hết đêm này sang đêm khác để địch suy tổn lực lượng rồi đánh cấp tập một trận giải phóng dứt điểm thành cổ như mọi trận khác vẫn diễn ra từ trước đến nay. Không ngờ quan điểm của tôi bị Ba Duẩn (Lê Duẩn) bác bỏ không thương tiếc. Giữa hội nghị, anh Ba đập tay xuống bàn, quát: "Thế là giảm sút ý chí chiến đấu. Phải cho địch biết thế nào là quả đấm chủ lực của quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Vì vậy tôi yêu cầu, cứ đánh vỗ mặt thành cổ Quảng Trị cho tôi. Sống chết, đúng sai tôi chịu trách nhiệm."

      Kết quả trong suốt 60 ngày đêm của chiến dịch thành cổ, cứ 5 giờ 30 phút chiều, khi trời bắt đầu chập choạng tối, một đại đội ta ở bên này bờ sông Thạch Hãn, lặng lẽ bơi sang để đánh vỗ mặt thành, 8 giờ 30 phút bơi trở về chỉ còn được mươi, mười lăm người. Lần nhiều nhất là 35 đồng chí (cả lành lặn, cả bị thương). Lần ít chỉ còn 5, 7 đồng chí thương tích đầy người, thậm chí có lần cả một khúc sông, không một bóng người, chỉ có tiếng gió hú ghê rợn như những âm hồn vọng vang khắp đáy sông. Như vậy, trung bình mỗi ngày ta tiêu hao một đại đội chủ lực (khoảng 135 người) và 60 ngày đêm tấn công thành cổ ta mất gần một vạn người, biến thành cổ Quảng Trị thành nấm mồ chôn thanh niên, sinh viên, trí thức Việt Nam.”

      Vậy đâu là cái tài của ông Giáp? Có lẽ chỉ là nướng quân mà thôi.

      Trong khuôn khổ một bài viết chỉ có thể điểm lại và tóm lược các sự việc một cách ngắn gọn nhất không cho phép đi quá dài về một vấn đề. Trong phần tướng Giáp với VNCH và Mỹ này tôi xin mời bạn đọc đọc thêm “Những sự thật cần phải biết - Phần 1” để thấy đâu là nguyên do “chiến thắng” trên mặt quân sự của cộng sản năm 1975. Và từ đó bạn đọc có cái nhìn rõ hơn về cái “tài” của ông Giáp.

      c. Cuộc chiến năm 1979 với Trung cộng:

      http://2.bp.blogspot.com/-eeOjGGU-T3M/UiivNavyhGI/AAAAAAABYXo/shE2cTb0P4U/s400/temp-danlambao-44.jpg
      (Hình trên) - Võ Nguyên Giáp và Trần Canh năm 1950

      Trong cuộc chiến Việt - Trung tháng 2-1979 thì quân đội cộng sản hoàn toàn bị bất ngờ. Để trừng phạt Việt nam, Trung cộng đã sử dụng 10 quân đoàn chủ lực và một số sư đoàn độc lập, bao gồm 300.000 binh sĩ, 550 xe tăng, 480 khẩu pháo, 1.260 súng cối, hỏa tiễn, chưa kể hơn 200 tàu chiến của hạm đội Nam Hải và 1.700 máy bay phía sau.

      Các nguồn tin phương Tây nhận định rằng Trung cộng đã mất từ 60 đến 90 ngày để đưa quân vào các vị trí tập kết sẵn sàng cho các mũi tấn công. Chỉ cần là nhân viên quân báo cấp trung đoàn, hay các tổ trinh sát đặc biệt cũng nhận ra được ý đồ, và ngày giờ khai hỏa của đối phương, nói gì đến tình báo chiến lược.

      (Xin xem tiếp phần 10)

      Xóa
  10. Nhận xét này đã bị quản trị viên blog xóa.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. (Phần 10)

      Mờ sáng ngày 17-2-1979, Trung cộng tấn công trên toàn tuyến biên giới dài 1.400 Km, trải rộng trong một khoảng không gian gồm 7 tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh.

      Việt Nam hoàn toàn không hay biết gì, khi Trung cộng tràn qua biên giới, thì thủ tướng Phạm Văn Đồng và đại tướng Văn Tiến Dũng, tổng tham mưu trưởng, đang thăm Campuchia. Dân chúng không được thông báo trước, trẻ em, người già, và phụ nữ có thai, không kịp di tản ra khỏi vùng chiến địa. Trung cộng đã tạo ra được một yếu tố bất ngờ đến ngoạn mục. Câu hỏi được đặt ra là tướng Giáp đã ở đâu? Ông đã làm gì khi vận mệnh nước Việt bị quân đội do ông lãnh đạo không hề hay biết giặc tập trung và tấn công? Có lẽ là do ông bất tài.

      Chúng ta phải quay lại thời kỳ trước đó, tháng 11-1978, Đặng Tiểu Bình công du Thái Lan, Malaysia và Singapore. Đặng Tiểu Bình nói với các vị chủ nhà rằng Trung Quốc sẽ dùng vũ lực nếu Việt Nam tấn công Campuchia và đã gọi Việt Nam là những tên du côn của phương Đông, phải dạy cho chúng một bài học.

      Ngày 28-1-1979, Đặng Tiểu Bình thăm Mỹ, và tuyên bố “Chúng tôi không thể cho phép Việt Nam gây rối loạn khắp nơi”, “ Trung Quốc kiên định đứng về phía Campuchia phản đối bọn xâm lược Việt Nam”. Giọng điệu chiến tranh của Đặng rất rõ. Báo chí Mỹ loan tải sớm muộn gì thì một cuộc chiến giữa hai nước cộng sản sẽ nổ ra.

      Sau 3 ngày thăm Mỹ, Đặng Tiểu Bình đến Nhật và tại đây vẫn giọng điệu hung hăng “Để trừng phạt Việt nam, dù có gặp những nguy hiểm cũng phải hành động”; “Không trừng phạt kẻ xâm lược, sẽ tạo ra những nguy hiểm phản ứng dây chuyền”, “Đối phó với loại người vô ơn như thế, không có những bài học cần thiết thì e rằng các hình thức khác đều không có hiệu quả”.

      Cũng khoảng thời gian này, TASS - hãng thông tấn của Liên Xô cũng đưa tin một lực lượng rất lớn quân đội Trung Quốc đang áp sát biên giới Việt-Trung. Từ Nhật về, Đặng Tiểu Bình chỉ thị tấn công Việt Nam vào ngày 17-2. Thời gian của chiến dịch không dài hơn cuộc chiến một tháng với Ấn Độ (1962), không gian của cuộc chiến sẽ tiến hành một cách hạn chế, trong phạm vi trên dưới 50 cây số từ biên giới.

      Bằng chứng Đặng Tiểu Bình sẽ trừng phạt Việt Nam đã rõ như ban ngày, nhưng không hiểu vì sao phía Việt Nam và nhất là quân đội tướng Giáp lại không hề hay biết? Có lẽ cái “tài” nhận định, đánh giá tình hình của tướng Giáp chính là đây.

      Thiếu tin tình báo, nhận định và phân tích tình hình sai, không nắm được thời điểm nổ súng, thời gian, không gian, và quy mô chiến dịch của đối phương, đã dẫn đến việc tướng Giáp không hề bố trí những quân đoàn chủ lực dọc biên giới. Tất cả phó thác cho dân quân tự vệ, bộ đội địa phương, và một vài trung đoàn độc lập.

      Sau những ngày chiến đấu ngoan cường nhưng đơn độc của sư đoàn Sao Vàng trước một đối phương áp đảo về số lượng và hỏa lực, ngày 4-3-1979, Lạng Sơn thất thủ. Sáng 5-3, Trung Quốc tuyên bố đã hoàn thành mục tiêu của cuộc trừng phạt, chiến thắng vẻ vang, và quyết định rút quân. Cùng ngày 5-3, Việt Nam phát lệnh “Tổng Động Viên”. Những quân đoàn chủ lực của quân đội cộng sản có xe tăng, pháo binh, và không quân từ chiến trường Campuchia trở về, cùng với một địa hình muôn vàn hiểm trở của núi rừng miền Bắc, Việt Nam đã vào vị trí vây hãm Trung cộng. Tất cả đã sẵn sàng cho cuộc phản kích, mà phần thắng sẽ thuộc về tay quân của ông Giáp. Nhưng thật bất ngờ, Việt Nam lại tuyên bố “Thiện Chí Hòa Bình”, rằng truyền thống ông cha ta... rằng lòng cao thượng... rằng lòng nhân đạo của dân tộc ta... Việt Nam sẽ để cho Trung cộng rút quân an toàn.

      Sự thật trên đường rút quân, Trung cộng vẫn chém giết, vơ vét, và phá hoại. Vụ thảm sát ngày 9 tháng 3 tại Đổng Chú, huyện Hòa An, Cao Bằng là một thí dụ. Trung cộng đã dùng búa, dao giết 43 người, gồm 21 phụ nữ trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai, 20 trẻ em, và 2 người đàn ông, rồi ném xác xuống giếng hoặc chặt ra nhiều khúc vứt hai bên bờ suối. Trung cộng có đủ thời gian và không gian để phá hoại hạ tầng cơ sở, chiếm giữ những điểm cao quan trọng, và gài lại hàng triệu trái mìn cá nhân trên đường rút lui.

      (Xin xem tiếp phần 11)

      Xóa
  11. Nhận xét này đã bị quản trị viên blog xóa.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. (Phần 11)

      Quyết định “Thiện Chí Hòa Bình” của cộng sản Việt Nam hình như là một thái độ thủ hòa, nhưng hòa vào một thế vô cùng bất lợi. Từ đó, trong bất kỳ những cuộc thương thảo nào về biên giới, Trung Quốc luôn ở thế kẻ cả, áp đảo, và lấn lướt mà chúng ta thấy rất rõ. Đây là hệ lụy từ sai lầm mang tính chiến lược do tướng Giáp và Bộ tổng tham mưu gây ra.

      http://2.bp.blogspot.com/-GS02DAKLdag/UiiwXG7-A4I/AAAAAAABYX0/holtBfq18yo/s400/temp-danlambao-44.png
      (Hình trên) - Bệnh viện huyện Trùng Khánh, Cao Bằng bị quân Trung cộng tàn phá tháng 2.1979

      Sự thật thì không chỉ có cuộc chiến năm 1979 mới thể hiện rõ sự kém cỏi của tướng Giáp. Mà ngay cả sau này sự việc mất Lão Sơn cũng là do lỗi của ông và đội quân dưới trướng ông.

      III. Một vị tướng ác:

      Trong một lần phóng viên báo chí quốc tế tại Hà Nội, phóng viên phỏng vấn ông Giáp: “...Ngài có hối tiếc gì về hơn 4 triệu người Việt Nam đã chết vì cuộc nội chiến ý thức hệ Cộng Sản?...” - Ông Võ Nguyên Giáp không đắn đo điềm nhiên trả lời bằng tiếng Pháp: “(Non, pas du tout) “không hề hối tiếc”. Và trong quá khứ, Võ Nguyên Giáp đã từng tuyên bố: “Nếu phải hy sinh 2/3 dân số để giành lại Tổ Quốc trong tay ngoại bang thì ta cũng làm!” và Võ Nguyên Giáp đã làm những điều ông ta tuyên bố... Có lẽ vì vậy mà ông đúng là một vị tướng không tiếc thương quân của mình chỉ với mục đích lập nên những hư danh, hay nói cách khác ông chính là một vị tướng Ác. Để chứng minh điều này chúng ta cần phải tìm hiểu một số luận điểm như sau.

      Thứ nhất, theo ông Philippe de Villiers, một sử gia nổi tiếng Pháp, tác giả quyển “Histore Contemporaine de l'Indochine” và ông Hoàng Văn Đào, tác giả quyển “Việt Nam Quốc Dân Đảng” cho biết: “Khi Hồ Chí Minh qua Pháp, đã giao cho cụ Huỳnh Thúc Kháng lúc đó đang giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội Vụ được tạm quyền thay thế chủ tịch Nước. Võ Nguyên Giáp lợi dụng lúc cụ Kháng đi kinh lý tỉnh Quảng Nam - lúc đó ông Giáp tuy đang giữ Bộ Quốc Phòng - trong mưu đồ có phương tiện và cơ hội ra tay triệt hạ các chiến sĩ quốc gia chống VM cộng sản, Giáp lại đề nghị kiêm luôn chức vụ Bộ trưởng Bộ Nội Vụ để tiện hành xử… Chỉ cần đợi lệnh Bộ Nội Vụ, “cương quyết trị tội” những kẻ làm việc phi pháp thì đến ngày 13-7 Võ Nguyên Giáp lệnh cho bộ đội và công an các địa phương được phép tấn công triệt hạ các chiến khu VNQDĐ, trừ trụ sở Trung Ương Hà Nội. Và chỉ trong vòng một tháng thì bàn tay đẫm máu của Giáp đã triệt hạ và tận diệt hết lực lượng quốc gia và chiến sĩ yêu nước liên hệ...”

      Qua điều này chúng ta thấy điều gì? Đó là Võ Nguyên Giáp quá ác độc với chính đồng bào mình và thủ tiêu đảng phái khác mà cụ thể đây chính là Việt Nam Quốc Dân Đảng. Đây chính là mình chứng cho thấy ông Giáp rất tàn ác.

      Thứ hai, đánh giá về hành động ám sát khủng bố những người quốc gia không cộng sản có nhiều bằng chứng về ông Giáp là một tên đồ tể “H. Berrier còn cho rằng vào năm 1944, những ngày đầu tiên khi còn hoạt động bên cạnh Hồ Chí Minh tại Hà Nội. Tướng Bình đã cùng với Võ Nguyên Giáp ám sát, khủng bố những thành phần quốc gia chống Pháp mà trước đây Bình từng là đồng chí với họ thời năm 1930. Bình và tướng Giáp đả mở những cuộc thanh trừng và sát hại rất nhiều thành phần được coi là Việt Gian. Khi giết những đồng chí Quốc Dân Đảng, phải chăng Nguyễn Bình muốn trả cái thù bị đâm chột mắt khi còn bị giam ở Côn Đảo? Rõ ràng cái gợi hứng ám sát và thủ tiêu những thành phần thù địch, Nguyễn Bình bước đầu cùng đi một con đường với tướng Giáp” (Tóm lược Hillaire du Berrier, Background to Betrayal, trang 66-67 của Nguyên Hùng).

      (Xin xem tiếp phần 12)

      Xóa
  12. Nhận xét này đã bị quản trị viên blog xóa.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. (Phần 12)

      Và sau đó thì hãy nghe lời tướng Giáp nói với Nguyễn Bình để thấy ông Giáp quyết tâm thanh trừng người yêu nước không cộng sản thế nào: “Anh hãy nghe đây, tướng Giáp nói với Bình: Anh là một người quốc gia thông minh. Anh phải đứng chung trong hàng ngũ của chúng tôi nếu không chúng tôi sẽ thủ tiêu những người bạn trẻ của anh. Chúng tôi phải làm như vậy bởi vì họ sau này có thể là những kẻ phản bội. Anh đã biết nếu những người này trở thành những người anh hùng? Bây giờ thì có thể họ chưa là gì, nhưng sau này thì họ sẽ đi vào lịch sử. Bởi vì họ đã làm được một số công trạng trong những năm vừa qua, họ ham muốn quyền lực. Nhưng họ lại không xứng đáng được. Và để đạt được quyền lực đó, họ chỉ có một con đường mà họ có thể làm được. Là họ sẽ cộng tác bắt tay với bọn Quốc Dân Đảng hoặc với Pháp. Họ phải bỏ đi thôi.” (Tóm lược Hillaire du Berrier, Background to Betrayal, trang 66-67 của Nguyên Hùng).

      Chính vì vậy, nhìn toàn diện các hoạt động khủng bố, ám sát ở những ngày đầu cuộc kháng chiến, ta phải coi ông Giáp là người chủ trương như nhận xét của Robert J O’ Neill: “Tướng Võ Nguyên Giáp chịu tất cả mọi trách nhiệm trong khi Hồ Chí Minh vắng mặt về việc sát hại hằng trăm các nhà chính trị dám chống lại Việt Minh, phá hại tất cả các tổ chức nào xem ra có thể cạnh tranh với Việt Minh cũng như cấm đoán mọi tờ báo nào xuất bản mà không có sự kiểm soát của Việt Minh. Ông cũng đã thiết lập được một quân đội từ 30.000 lên 60.000 cũng như một đơn vị tự vệ từ các thường dân…”(Trích “Robert J O’ Neill, General Giap: Politician & Strategist, trang 44”).

      Thứ ba, trong cuộc phỏng vấn tạp chí George năm 1998, chính tướng William Childs Westmoreland - Tư lệnh Bộ chỉ huy cố vấn quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam - nói về tướng Võ Nguyên Giáp của quân đội cộng sản như sau: “Of course, he was a formidable adversary... By his own admission, by early 1969, I think, he had lost, what, a half million soldiers? He reported this. Now such a disregard for human life may make a formidable adversary, but it does not make a military genius. An American commander losing men like that would hardly have lasted more than a few weeks”. Xin được tạm dịch là: “Dĩ nhiên, ông ta là một đối thủ (kẻ thù) ghê gớm... Với sự thừa nhận của chính ông ta, đến đầu năm 1969, tôi nghĩ, ông ta đã mất nửa triệu lính? Ông ta đã báo cáo điều này. Hiện tại, một sự coi thường mạng người như thế có lẽ sẽ tạo nên một đối thủ (kẻ thù) ghê gớm, nhưng nó không tạo nên một thiên tài quân sự. Một chỉ huy Mỹ, nếu để thất thoát nhiều binh sĩ như thế, chắc khó có thể đứng vững hơn một vài tuần lễ”.

      Chúng ta cũng phải nhận thấy một điều là với Westmoreland, một chiến thắng quân sự dựa trên chiến thuật đẫm máu, coi thường sinh mạng binh sĩ chỉ có thể tạo nên một kẻ thù nguy hiểm chứ không tạo nên một thiên tài quân sự. Điều này cho thấy cộng sản Việt Nam thật sự tàn độc và coi thường sinh mạng binh sĩ. Đây không chỉ là điều ám chỉ mình tướng Giáp công thành khiến “vạn cốt khô” mà nó còn ám chỉ bản chất không từ bỏ bất cứ một thủ đoạn nào của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam. Mục đích của cộng sản là lợi dụng xương máu của nhân dân để đem lại lợi ích cho đảng mà không có chút tình người, tình dân tộc nào ở đây. Tướng Westmoreland cũng khá sâu sắc khi dùng từ “formidable” vì nó có nghĩa như là sự khủng bố mà chính cộng sản Việt Nam gây ra cho nhân dân 2 miền.

      Thứ tư, để khẳng định thêm về việc coi thường sinh mạng chính đồng chí mình trong cuộc chiến, mời các bạn đọc bức thư sau đây.

      http://3.bp.blogspot.com/-xy3_OddBcnU/UiiyjxSqMeI/AAAAAAABYYA/br4lPkhl8a8/s1600/vonguyengiap-0393.jpg
      (Hình trên) - Bức thư ngõ của Trung tướng J.H.Hay Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh Hoa Kỳ

      (Xin xem tiếp phần 13)

      Xóa
  13. Nhận xét này đã bị quản trị viên blog xóa.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. (Phần 13)

      Thứ năm, người chiến sỹ là bộ đội cộng sản ra trận không chỉ bởi những thúc ép từ quê nhà bằng chính sách hộ khẩu và đấu tố đào ngũ mà còn ngay tại mặt trận họ bị bắt ép phải chết vì đảng cộng sản. Xin lấy một vài ví dụ:

      http://3.bp.blogspot.com/-KfL_GHDaY-Y/Uiiy8HSTWkI/AAAAAAABYYI/Z7TPm1yeJaQ/s1600/temp-danlambao-44.png
      (Hình trên) - Bộ đội bị xích chân cùng xe tăng T54 khi tấn công

      Cuốn sách “Stalking the Vietcong” (7) tại trang 207 đã có hình ảnh và minh chứng cho việc quân đội cộng sản đẩy những thanh niên vào những sợi xích chân bắt buộc họ phải hi sinh oan uổng vì chủ nghĩa cộng sản.

      Cũng nói về việc cưỡng bức và lên dây cót tinh thần chiến đấu của các chiến sỹ bộ đội cộng sản, đảng đã không từ bỏ bất cứ thủ đoạn nào. Trong cuốn “Mặt trái của chiến tranh” do Hội Văn nghệ quân đội Nga xuất bản năm 1995 có viết tại trang 15: “Các cuộc chiến đều đem lại đau thương và người ta thậm chí còn kích thích tinh thần người chiến sỹ bằng những liều thuốc. Người Đức dùng Ma túy tổng hợp, người Trung Quốc dùng thuốc tự chế tên gọi “hùng tâm” mà sau này có dùng trong chiến tranh Việt Nam cho quân đội Miền Bắc...”

      Vậy ông Giáp đã ở đâu khi để quân của ông phải chết vì những cái chết oan uổng đó? Nếu làm tướng mà xây danh vọng trên xác binh lính một cách phi nghĩa và độc ác như thế thì có đáng được tôn vinh hay không?. Tôi mong những giây phút cuối đời ông Giáp hãy dũng cảm nói lên sư thật này.

      Ngoài ra, ông Giáp nghĩ gì khi chính bộ chính trị và quân ủy quyết định dùng trẻ em như những quân bài tẩy trong chiến tranh (Xin xem thêm “Những sự thật cần phải biết - phần 11”). Một vi tướng dùng trẻ em để hi sinh có phải là anh hùng không? Anh hùng thì chắc chắn là không mà cái Ác thì chắc chắn là có.

      (Xin xem tiếp phần 14 - Phần cuối)

      Xóa
  14. Nhận xét này đã bị quản trị viên blog xóa.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. (Phần 14 - Phần cuối)

      Thứ sáu, để kết luận về tính “ác” của ông Giáp thì hãy đọc đoạn sau đây trong cuốn Losers are Pirates by James Banerian1984, Tr.69): “Năm 1946, Hồ Chí Minh ký hòa ước với Pháp để quân Pháp trở lại Việt Nam. Các lãnh tụ Công Sản, trong đó có Giáp, đã thẳng tay tiêu diệt các người quốc gia Năm 1946, khi cuộc chiến tranh Việt - Pháp sắp xảy ra, Giáp là Bộ Trưởng Quốc phòng trong Chánh phủ liên hiệp. Tại Hà Nội, trong khi quân Pháp và Tự Vệ Thành đang gầm ghè nhau, Giáp và đồng bọn hứa hẹn là quân chánh qui của họ tức các đơn vị Vệ Quốc Đoàn tinh nhuệ đã kéo về đóng chung quanh Hà Nội, sẵn sàng làm cỏ quân Pháp. Ngày 19 tháng 12, chiến tranh bùng nổ tại Hà Nội. Nhóm lãnh đạo Cộng Sản đã rút về Hà Đông từ mấy ngày trước. Vệ Quốc Đoàn đâu chẳng thấy, chỉ thấy các Tự Vệ Thành đánh vùi với quân Pháp trong các đường phố Hà Nội. Họ đã cầm cự với quân Pháp trong gần 2 tháng, thời gian đủ để dân chúng rời thành phố lánh nạn, đủ để đám Cộng Sản rút vào các an toàn khu Việt Bắc. Giáp và đồng bọn muốn mượn tay quân Pháp để thủ tiêu các thanh niên Hà Nội.”

      Chúng ta thấy ở đây điều gì? Đó là ông Giáp đã có đầy đủ bản chất của những người lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam, kể từ Hồ Chí Minh trở xuống, là gian hùng, dối trá, thâm độc và tàn bạo.

      IV. Kết luận:

      Năm 1983, Võ Nguyên Giáp bị Lê Đức Thọ, Lê Duẩn hạ nhục bằng cách cho đi làm Chủ tịch Ủy Ban sinh đẻ có kế hoạch. Ông Giáp đã ngậm bồ hòn làm ngọt, ngoan ngoãn vâng lời. Ngày trước, trong vụ Nhân văn Giai phẩm xảy ra tại miền Bắc năm 1955, nhiều người đã ở trong Quân Đội Nhân dân của Giáp như Trần Dần, Hoàng Cầm, Quang Dũng, Phùng Quán... bị đem ra đấu tố, tù đầy, Giáp vẫn giữ im lặng. Trong vụ án chống đảng do đám Lê Duẩn, Lê Đức Thọ chủ mưu, các tướng Cộng sản đàn em của Giáp như Lê Liêm, Đặng Kim Giang, Nguyễn Văn Vịnh, các Đại tá thuộc cấp của Giáp như Lê Minh Nghĩa, Lê Vinh Quốc, Văn Dzoãn... bị hãm hại; Giáp vẫn ngoảnh mặt làm ngơ. Khi các tướng Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái (cũng là thông gia của ông Giáp) bị đột tử sau khi miền Nam đã bị cộng sản hóa thì ông Giáp vẫn ngậm miệng, im lặng là vàng.

      Ông Giáp đã để lộ rõ cái hèn của mình. Ông Giáp kệ mặc đàn em bị thảm sát, tù đày. Theo nhà báo Bùi Tín, cựu Phó Tổng Biên tập của báo Cộng Sản Quân Đội Nhân dân, sở dĩ ông Giáp không bị đám Lê Đức Thọ, Lê Duẩn thủ tiêu vì Giáp biết thủ nghĩa: “Anh Văn quá hèn”. Chức vụ coi về sanh đẻ năm 1983 là một hình thức hạ nhục Giáp do đám Lê Duẩn, Lê Đức Thọ chủ trương. Để nói về việc hạ nhục này, trong dân gian có truyền tụng hai câu thơ diễu cợt đượm đầy mỉa mai:

      “Ngày xưa Đại tướng cầm quân
      Ngày nay Đại tướng cầm quần chị em”.

      Với tôi, trong bài viết này không quan trọng chuyện đó vì đây là thuộc phạm trù con người. Ông Giáp có quyền né tránh và thủ thân cho mình.

      Tuy nhiên cái không được của ông Giáp ở đây chính là ông quá bất tài nhưng không chịu chấp nhận sự thật đó mà vẫn mặc kệ im lặng để cộng sản tô vẽ nhưng cái ông không có. Ngoài ra, bằng sự coi thường sinh mệnh nhân dân, sinh mệnh chiến sỹ thì ông Giáp xứng đáng được liệt vào hàng tướng Ác. Nhưng không phải chỉ là ác với đối phương mà ác với chính quân của mình, coi quân của mình như cỏ rác.

      Với một lý lịch bất minh là con của mật thám Pháp thì ông Giáp đáng lẽ ra không thể theo cộng sản. Nhưng vì ông ta có cái ác, cái lỏi mà Hồ Chí Minh thích sử dụng ông ta. Bởi vậy người ta sẽ dễ dàng giải thích vì sao ông im lặng cho Hồ Chí Minh giết hại hàng triệu đồng bào trong CCRĐ. Tại sao ông Giáp im lặng cho Phạm Văn Đồng và Hồ Chí Minh ký công hàm bán Hoàng Sa - Trường Sa năm 1958. Những người ca ngợi ông sẽ lấy lý do gì bào chữa cho việc ông “có tâm” mà lại để những việc bán nước, giết người xảy ra ngay trước mũi khi ông nắm quân đội trong tay. Có lẽ ông Giáp cũng chỉ là một người cộng sản như bao cộng sản khác đó là: bán nước, độc tài, tàn ác và bất tài mà thôi!

      05/09/2013
      Đặng Chí Hùng

      Xóa
  15. Thật tự hào khi mình là người Việt Nam. Một đất nước lịch sử với bao vị tướng đại tài, nhân cách khiến cho thế giới phải kính phục. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một người như vậy. Bác đã hi sinh cuộc đời mình cho nền độc lập nước nhà. Cuộc đời Bác là những trang sử vàng đối với dân tộc. Công ơn to lớn của Bác như trời bể. Tình yêu quê hương đất nước dâng lên. Con cháu Việt Nam quyết tâm giữ vững nền độc lập này.

    Trả lờiXóa
  16. Là học trò xuất sắc của chủ tịch Hồ Chí Minh. Chưa từng được học qua trường lớp quân sự nào, nhưng tài lãnh đạo, nghệ thuật quân sự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khiến thế giới phải kinh ngạc. Là một trong 10 vị tướng vĩ đại nhất lịch sử thế giới.Nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu lịch sử, quân sự trong nước và thế giới đều đánh giá Đại tướng là người toàn tài kể cả trong thời chiến lẫn thời bình. Ông đặc biệt được người dân Việt Nam nhiều thế hệ yêu mến, kính trọng bởi tài năng cũng như sự gần gũi, bình dị trong cuộc sống.

    Trả lờiXóa
  17. Đại tướng tổng tư lệnh quân đội Việt Nam, viện Hàn Lâm hoàng gia Anh vinh danh ông là người đánh đổ hai chế độ thực dân cũ và mới, bậc thầy của chiến tranh du kích. "Sau Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp là nhân vật quan trọng nhất trong lịch sử Việt Nam thế kỷ 20.Ông là một vị tướng tự học, và chìa khóa của tài chỉ huy quân sự của ông là chiến lược kiên trì bền bỉ tuyệt đối.” Trong Kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Đại tướng trực tiếp chỉ huy nhiều chiến dịch lớn. Đặc biệt tên tuổi ông gắn liền với chiến thắng trong Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) và Hồ Chí Minh (1975) - những bước ngoặt trong lịch sử dân tộc.
    Đại tướng là trang sử vàng của dân tộc.

    Trả lờiXóa
  18. Về sự song toàn văn võ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, GS Vũ Khiêu từng có câu đối: “Võ công truyền quốc sử, văn đức quán nhân tâm”.
    G.Bonnet, Từ điển bách khoa toàn thư Pháp từng nói: “Là người tổ chức quân đội nhân dân, ông Giáp đã thực hiện được một sự tổng hợp độc đáo các học thuyết quân sự mác xít kết hợp nhuần nhuyễn với truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, vận dụng khôn khéo vào những điều kiện của một quốc gia có đất đai tương đối hẹp”.

    Trả lờiXóa
  19. NHỮNG SỰ THẬT CẦN PHẢI BIẾT (phần 19) - SỰ THẬT VỀ VÕ NGUYÊN GIÁP

    Do sinh ra và lớn lên trong môi trường xã hội chủ nghĩa nên từ nhỏ tôi cũng bị nhồi sọ và tuyên truyền những điều dối trá. Khi tôi tìm tài liệu và biết về sự thật thì tôi hiểu ra rằng mình đã bị nhồi sọ bởi một chương trình nói láo có hệ thống. Tuy nhiên lúc đó tôi vẫn còn thần tượng một phần nào đó ông Võ Nguyên Giáp. Tôi coi trọng ông Giáp hơn rất nhiều Hồ Chí Minh. Nhưng... cách đây 6 năm thì sau khi đã tìm hiểu đầy đủ tài liệu tôi chợt nhận ra ông Giáp cũng không khác gì các lãnh tụ cộng sản khác. Vì vậy, hôm nay tôi sẽ phải viết về ông Giáp như một nhận thức đúng đắn nhất về ông ta đó là một vị tướng: Không có tài và coi thường sinh mạng của nhân dân.

    I. Đôi điều về con người Võ Nguyên Giáp:

    Đầu tiên xin mời bạn đọc xem qua tài liệu về tiểu sử của ông Giáp trên website của Quảng Bình (1):

    “Tóm tắt tiểu sử-Đại tướng Võ Nguyên Giáp:

    1. Họ và tên (bí danh): Võ Nguyên Giáp (Văn)
    2. Năm sinh: Ngày 25/8/1911.
    3. Cấp bậc, chức vụ cao nhất: Đại tướng, Phó thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
    4. Quê quán: Làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình
    5. Trú quán: Phố Hoàng Diệu, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
    6. Thành phần: Nhà nho yêu nước.
    7. Năm tham gia cách mạng: Năm 1925.
    8. Năm nhập ngũ: Năm 1944.
    9. Ngày vào Đảng - Chính thức: Năm 1940.
    10. Năm phong quân hàm cấp tướng: Đại tướng năm 1948.
    11. Quá trình tham gia cách mạng

    Đồng chí tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1925 khi mới 14 tuổi. Năm 1929, đồng chí tham gia cải tổ Tân Việt Cách mạng Đảng thành Đảng Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Năm 1930, đồng chí bị thực dân Pháp bắt giam vì tham gia các cuộc biểu tình chống Pháp. Không có chứng cớ, cuối cùng, chúng buộc tha đồng chí. Đồng chí tiếp tục hoạt động cách mạng trên mặt trận văn hóa, viết bài cho những tờ báo công khai như: Tin tức, Nhân dân, Tiếng nói của chúng ta, Lao động, làm biên tập viên cho các tờ báo của Đảng, dạy sử, địa cho Trường tư thục Thăng Long.

    Năm 1934, đồng chí kết duyên với Bà Nguyễn Thị Minh Thái, một Đảng viên Cộng sản, cộng sự đắc lực của đồng chí. Trong những năm tháng hoạt động bí mật, hai vợ chồng đồng chí sống ở số nhà 46 phố Nam Ngư, Hà Nội. Sau này, Bà Nguyễn Thị Minh Thái bị thực dân Pháp bắt, giết chết bà trong ngục nhà tù Hỏa Lò. Từ năm 1936 đến 1939, đồng chí tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, biên tập viên các tờ báo của Đảng, Chủ tịch Ủy ban báo chí Bắc Kỳ trong phong trào Đông Dương đại hội.

    Năm 1939, đồng chí cùng đồng chí Phạm Văn Đồng sang Trung Quốc gặp Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Được sự dìu dắt của Người, năm 1940, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 5 năm 1941, đồng chí trở về Cao Bằng, tham gia gây cơ sở cách mạng, lập ra Mặt trận Việt Minh, tham gia chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang ở căn cứ địa Cao - Bắc - Lạng. Năm 1942, đồng chí phụ trách Ban Xung phong Nam tiến, dùng hoạt động tuyên truyền vũ trang mở đường liên lạc giữa miền núi với đồng bằng Bắc Bộ.

    Tháng 12/1944, đồng chí được Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân. Ngày 22/12/1944, tại một khu rừng ở châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã ủy nhiệm cho đồng chí đứng ra tuyên bố thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay. Đồng chí được giao nhiệm vụ trực tiếp lãnh đạo và chỉ huy.

    Tháng 3/1945, đồng chí đưa Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tiến xuống phía Nam, hội quân với đội Cứu quốc quân của đồng chí Chu Văn Tấn ở vùng chợ Chu, Thái Nguyên để thống nhất tổ chức thành Việt Nam giải phóng quân.

    Ngày 4/8/1945, đồng chí là Ủy viên Ủy ban Quân sự Cách mạng Bắc Kỳ, làm Tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang thống nhất mang tên Việt Nam Giải phóng quân, tham gia Ủy ban Chỉ huy Lâm thời khu Giải phóng Việt Bắc.

    (Xin xem tiếp phần 2)

    Trả lờiXóa
  20. (Phần 2)

    Đồng chí được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ II, cử vào Ban Chấp hành Trung ương và là Ủy viên Thường vụ ban Chấp hành Trung ương, tham gia Ủy Ban Khởi nghĩa toàn quốc, Ủy ban Giải phóng Dân tộc Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ Lâm thời.

    Tháng 1/1946, đồng chí được cử là Chủ tịch quân sự, Ủy viên hội đồng trong Chính phủ Liên hiệp, Phó trưởng đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đàm phán với Pháp tại Hội nghị ở Đà Lạt. Năm 1946, đồng chí kết hôn với Bà Đặng Thị Bích Hà (Con gái cố Giáo sư Đặng Thai Mai).

    Ngày 20/1/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 110/SL, phong đồng chí làm Đại tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngày 27/10/1948, Ban Thường vụ Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương ra Nghị quyết: “Lập chế độ chính trị ủy viên, đại diện chỉ huy kiêm Chính ủy. Tháng 6/1950, có Nghị quyết của Thường vụ Trung ương Đảng chấn chỉnh tổ chức thành Bộ Quốc phòng, đồng chí là Tổng tư lệnh, Tổng chính ủy, Bí thư Quân ủy Trung ương. Đồng chí đảm nhiệm các cương vị trên từ năm 1945 đến năm 1975.

    Về Đảng, đồng chí liên tục được bầu là Ủy viên Trung ương Đảng các khóa II (năm 1951), đến khóa VI (Ngày 20/12/ 1986), làm Ủy viên Bộ Chính trị các khóa từ khóa II đến khóa VI. Đồng chí là đại biểu Quốc hội từ khóa I (năm 1946) đến khóa VI (Năm 1986). Trong kháng chiến chống Pháp, đồng chí trực tiếp chỉ huy các chiến dịch lớn: Biên Giới năm 1950, Điện Biên Phủ năm 1954.

    Trong kháng chiến chống Mỹ, đồng chí cùng Bộ Chính Trị chỉ đạo các chiến dịch lớn ở miền Nam Việt Nam, trong đó có Chiến dịch Hồ Chí Minh, chỉ đạo cuộc chiến tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của Mỹ ở miền Bắc Việt Nam.

    Năm 1980, đồng chí thôi giữ chức Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, rút khỏi Bộ Chính trị năm 1982. Cuối năm 1983, đồng chí được cử làm Chủ tịch Ủy ban sinh đẻ có kế hoạch. Cuối năm 1993, đồng chí được suy tôn làm Chủ tịch danh dự Hội Cựu chiến binh Việt Nam….

    12. Phần thưởng được Đảng, Nhà nước trao tặng:

    - Huân chương Sao vàng.
    - Hai Huân chương Hồ Chí Minh.
    - Hai Huân chương Quân công hạng nhất.
    - Huân chương Chiến thắng hạng nhất.
    - Huân chương Chiến công hạng nhất.
    - Huân chương Kháng chiến hạng nhất.
    - Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất.
    - Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.

    Đồng chí được Nhà nước Lào tặng Huân chương vàng Quốc gia Lào, Nhà nước Campuchia tặng Huân chương Ăng Co. Đồng chí được Đảng, Chính phủ các nước tặng nhiều Huân chương cao quý.”

    Đọc qua tiểu sử của ông Giáp chúng ta thấy ông ta có một quá trình tham gia cộng sản khá lâu dài cho đến ngày hôm nay. Và chính ông Giáp có vai trò rất quan trọng trong việc gây ra hàng triệu cái chết trong chiến tranh “sinh bắc tử nam” mà chúng ta đã biết. Như vậy cũng giống như các lãnh tụ cộng sản khác, ông Giáp có tội gây ra chiến tranh tàn khốc theo lệnh của Trung Cộng. Tuy nhiên ông ta cũng đã được thêu dệt bằng những huyền thoại như tướng tài, tướng thương quân. Nhưng sự thật lại không phải như vậy. Mời bạn đọc theo dõi những tài liệu dưới đây để thấy điều đó.

    Trước khi đi vào chi tiết cụ thể về những “thực tài” của ông Giáp, chúng ta hãy xem lý lịch bất minh của ông Giáp mà ngày nay đã có tài liệu sáng tỏ ông ta từng là con nuôi của mật thám Pháp. Có ít nhất 3 tài liệu trong số vô vàn tài liệu mà tôi xin gửi đến bạn đọc ở đây để chứng minh cho sự bất minh cho lý lịch của ông Tướng.

    (Xin xem tiếp phần 3)

    Trả lờiXóa
  21. (Phần 3)

    Thứ nhất, theo ông Trần Quỳnh - một chức sắc lãnh đạo có thẩm quyền cộng sản, có uy tín cá nhân - viết lại về việc Trường Chinh đến thăm ông Đặng Thái Mai như sau: “Thời kỳ trước Cách mạng tháng tám, một lần Trường Chinh đến nhà Đặng Thái Mai có việc. Thấy Mai đang cầm đọc một lá thư, Đăng Thái Mai bị bất ngờ, Trường Chinh lướt qua bức thư mới kịp thấy tiêu đề của thư là chánh mật thám, chữ ký là Mạc-Ti và câu đầu: “Các con thân ái Mai và Giáp” (Mes chers enfants Mai et Giap). Mai ngước lên nhìn thấy Trường Chinh vội vàng nhét thư vào túi áo... Giáp là con người xảo trá- khi tôi từ miền Nam, khi nói chuyện riêng, Giáp hay nói xấu Bác, nhưng trước mặt Bác, Giáp hay nịnh Bác”. (Hồi ký Trần Quỳnh: Những kỷ niệm về Lê Duẩn, 30-07-1986).

    Thứ hai, ông Hoàng Văn Chí trong cuốn “Từ thực dân đến cộng sản” viết đầy đủ và rõ ràng hơn như sau: “Mai (Đặng Thái Mai) và Giáp đều là “con nuôi” của Louis Marty, giám đốc phòng chính trị của Phủ Toàn Quyền. Marty kiếm việc cho Mai dạy học ở trường Gia Long mà giám đốc là Bailey, một người Pháp, và giao Giáp, hãy còn là sinh viên, cho Mai trông coi. Trong khi những đảng viên Tân Việt khác bị tù đầy hoặc cầm cố thì hai người ung dung sống ở Hà Nội cho đến ngày Giáp được Pháp đưa sang Tàu theo Việt Minh chống Nhật. Giáp có theo học lớp “chiến tranh du kích” do Mỹ mở ở Tỉnh Tây, nhưng không bao giờ lên Diên An. Giáp và Mai coi nhau như “anh em kết nghĩa”, nhưng sau khi vợ Giáp chết trong tù, Giáp lấy cô Hà, con gái Mai kém Giáp gần 20 tuổi mà trước kia Giáp vẫn bế trong tay hồi còn là chú cháu”.

    Thứ ba, cuốn sách của Cecil B. Currey, nhan đề: “Victory at any cost: The Genius Of Viet Nam’s Gen. Vo Nguyên Giáp” ghi lại đầy đủ chi tiết và trung thực hơn cả. Xin được tóm tắt như sau: “Vào năm 1930, mật thám Pháp đã bắt một số người tình nghi hoạt động chống Pháp cùng với một số người khác trong đó có anh của Võ Nguyên Giáp là Võ Thuần Nho, Đặng Thái Mai, một giáo sư văn chương tại Quốc Học và một nữ sinh 15 tuổi tên Nguyễn Thị Quang Thái, nữ sinh Đồng Khánh. Người mà sau này là vợ của Võ Nguyên Giáp... Đặng Thái Mai bị kết án 4 năm tù, Nguyễn Thị Quang Thái, hai năm tù. Riêng Võ Nguyên Giáp vì chứng cớ hoạt động không rõ ràng, nhưng quan tòa cũng xin xử phạt 2 năm tù khổ sai... Năm 1933, Đặng Thái Mai ra Hà Nội nhận dạy học ở trường Thăng Long, VNG ra Bắc theo... Với một án tù chính trị như thế, con đường học của Võ Nguyên Giáp là không thể có được nếu không có sự giúp đỡ của Louis Marty. Trong việc tiếp xúc giữa Marty và VNG, Marty đã khuyên Giáp quay trở lại việc học và chuẩn bị cho việc thi tú tài 1 và 2. Chắc hẳn Marty đã ngầm giúp đỡ để Giáp có thể vào học ở trường Albert Sarraut”.

    (Xin xem tiếp phần 4)

    Trả lờiXóa
  22. (Phần 4)

    II. Một vị tướng không có thực tài:

    1. Ông tướng chưa học quân sự:

    Ông Giáp được ca tụng là một chỉ huy quân sự tài ba, lỗi lạc, thậm chí được cộng sản so sánh với đức thánh Trần Hưng Đạo. Nhưng có một điều là ông ta chưa học qua một khóa huấn luyện quân sự chuyên nghiệp nào. Để chứng minh điều này có 2 tài liệu sau đây:

    Thứ nhất, cũng trên trang web của tỉnh Quảng Bình có đoạn viết về Võ Nguyên Giáp như sau: “Từ 1936 đến 1939, Võ Nguyên Giáp tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, là sáng lập viên của mặt trận và là Chủ tịch Ủy ban Báo chí Bắc Kỳ trong phong trào Đông Dương đại hội. Ông tham gia thành lập và làm báo tiếng Pháp Notre voix (Tiếng nói của chúng ta), Le Travail (Lao động), biên tập các báo Tin tức, Dân chúng. Tháng 5 năm 1939, Võ Nguyên Giáp nhận dạy môn lịch sử tại Trường Tư thục Thăng Long, Hà Nội do Hoàng Minh Giám làm giám đốc nhà trường. Ngày 3 tháng 5 năm 1940, Võ Nguyên Giáp với bí danh là Dương Hoài Nam cùng Phạm Văn Đồng lên Cao Bằng rồi vượt biên sang Trung Quốc để gặp Hồ Chí Minh. Ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương trong năm này và bắt đầu các hoạt động của mình trong Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội, một tổ chức chống phát-xít và đấu tranh cho độc lập của Việt Nam. Ông tham gia xây dựng cơ sở cách mạng, mở lớp huấn luyện quân sự cho Việt Minh ở Cao Bằng. Ngày 22 tháng 12 năm 1944, theo hướng dẫn của Hồ Chí Minh, ông thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân tại chiến khu Trần Hưng Đạo với 34 người, được trang bị 2 súng thập (một loại súng ngắn), 17 súng trường, 14 súng kíp và 1 súng máy. Đây là tổ chức tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam.” (2)

    Đọc qua đoạn trích tiểu sử ông Giáp chúng ta không hề thấy ngày tháng nào ông Giáp học quân sự nhưng lại thành lập quân đội và “huấn luyện quân sự”. Ông Giáp sẽ dạy gì cho lính nếu ông ta mù tịt về quân sự khi chưa có giờ phút nào học nó? Có lẽ cái này ông Giáp là hiểu nhất.

    Thứ hai, trên trang Infonet của Bộ Thông tin Truyền thông của cộng sản có viết bài về cuốn sách “Chiến thắng bằng mọi giá” của 1 tác giả Mỹ như sau: “Dưới ngòi bút của sử gia người Mỹ, Võ Nguyên Giáp được xem là gương mặt quân sự đặc biệt nhất của thế kỷ XX. Theo ông, tướng Giáp dù không qua trường lớp đào tạo về quân sự, song những chiến công của Võ Nguyên Giáp và quân đội Việt Nam quả là huy hoàng, không chỉ đơn thuần về mặt quân sự mà còn là những trận toàn thắng về chính trị.” (3)

    Bỏ qua sự ca tụng mà truyền thông lề đảng vẫn làm khi viết về ông Giáp và các nhà lãnh đạo cộng sản mà sự thật chúng ta sẽ thấy ở phần sau của bài viết thì có một thực tế là ông Giáp chưa bao giờ qua trường lớp quân sự nào. Thật là một chuyện không thể có nếu không học qua quân sự lại biết về quân sự và tài tình như cộng sản thêu dệt. Cộng sản có thể lý luận ông Giáp cũng có thể như Khổng Minh trong Tam Quốc. Nhưng chúng ta phải nên nhớ Khổng Minh là một thiên tài đã đọc hết các sách binh thư, ngoài ra còn được bố vợ và vợ hết lòng chỉ giáo. Bởi vậy một kẻ không học qua sách vở, trường lớp quân sự không thể là kẻ thiên tài như cộng sản ca tụng. Và bằng chứng bằng sự thật đã khẳng định điều đó là đúng.

    (Xin xem tiếp phần 5)

    Trả lờiXóa
  23. (Phần 5)

    2. Tài năng vay mượn:

    Tướng Giáp luôn được ca ngợi ông ta chỉ huy nhiều trận thắng vang dội nhưng sự thật lại hoàn toàn ngược lại. Hãy tìm hiểu những tài liệu sự thật để thấy ông Giáp nằm ở đâu trong những “thắng lợi” của quân đội cộng sản.

    Trong số 8 tội mà liên minh Đỗ Mười - Lê Đức Anh đã tố ông Giáp thì có đến 4 tội trong quân sự đó là: “Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông Giáp hèn nhát, sợ chết quanh quẩn trong hầm, không dám ra ngoài. Nguyễn Chí Thanh mới chính là người chỉ huy chiến dịch. Ông Giáp nhận định tình hình kém, vội vàng giải tán 80.000 quân, để khi Pháp - Mỹ trở lại thì không có đủ quân chống đỡ. Tết Mậu Thân 1968 ông Giáp nhận định rằng Mỹ sẽ dùng bom nguyên tử đánh Hà Nội, nên xin đi nghỉ ở Moscow để lánh nạn. Ông Giáp hèn nhát, sợ B-52 của Mỹ rải thảm, nên không đi B (chưa bao giờ dám đặt chân vào chiến trường miền Nam trước 1975).” Và cơ bản những điều Đỗ Mười, Lê Đức Anh nói đều đúng không sai.

    a. Trận chiến Điện Biên Phủ:

    Thứ nhất, để minh chứng cho việc Vi Quốc Thanh - một tướng Trung Cộng tham gia chiến tranh với Pháp và đặc biệt tại Điện Biên Phủ đã chỉ huy quân đội cộng sản, tôi xin gửi tới bạn đọc bằng chứng được chính quyền cộng sản công bố. Ví dụ như trong bài viết về Vi Quốc Thanh trên website của sở Khoa học và công nghệ tỉnh Nghệ An: “Mối quan hệ tốt đẹp giữa Bác Hồ với Vi Quốc Thanh được thiết lập từ hồi kháng chiến chống Pháp đầu những năm 50 của thế kỷ XX - khi mà Vi Quốc Thanh sang làm Trưởng đoàn Cố vấn quân sự Trung Quốc tại Việt Nam theo sự phân công của Đảng và Nhà nước Trung Quốc.” (4)

    http://4.bp.blogspot.com/-JcK8b1l2kns/Uiipd_5SJ6I/AAAAAAABYWk/7nTl7LcfcHw/s400/temp-danlambao-44.png
    (Hình trên) - Tướng Phùng Quang Thanh và Đoàn VN chụp ảnh lưu niệm với đại diện thân nhân gia đình các tướng Tàu - Trần Canh, Vi Quốc Thanh và Hồng Thủy

    Thứ hai, báo quân đội nhân dân của nhà cầm quyền cộng sản dịch một bài viết của báo Trung cộng ca ngợi công lao của Vi Quốc Thanh và đàn em La Quý Ba, Trần Canh tại chiến dịch Điện Biên Phủ như sau: “Về vấn đề làm cố vấn như thế nào, Mao Chủ tịch nói: “Cố vấn thì là cố vấn, nhưng trên thực tế chính là tham mưu, làm tham mưu tốt cho các đồng chí lãnh đạo của người ta. Tham mưu chính là đề xuất chủ trương, nghĩ biện pháp, hiệp tác giúp đỡ lãnh đạo... Trung tuần tháng 6 năm 1950, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc cử đồng chí Trần Canh làm đại biểu sang Việt Nam, giúp đỡ tổ chức thực thi chiến dịch Biên Giới. Sau khi đến Việt Nam, đồng chí Trần Canh lập tức hội kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh, báo cáo với Hồ Chủ tịch ý tưởng tác chiến tại biên giới đã suy nghĩ suốt dọc đường, đồng thời lập tức bôn tập ra tiền tuyến cùng với đồng chí Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt nam trù hoạch tỷ mỉ kế hoạc tác chiến... Về chiến dịch Điện Biên Phủ khi đó Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Tổng chỉ huy chiến dịch. Đồng chí Vi Quốc Thanh là Tổng cố vấn quân sự. Cố vấn quân sự các cấp của phía Trung Quốc ra tiền tuyến dốc toàn lực hiệp tác giúp đỡ...” (5)

    Qua đoạn trích chúng ta thấy gì? Đó là suốt từ chiến dịch biên giới 1950 cho đến Điện Biên Phủ ông Giáp không phải là người đưa ra quyết sách mà hoàn toàn là người thi hành những cố vấn hay nói cách khác là chỉ đạo của Trung cộng thông qua La Quý Ba, Trần Canh và Vi Quốc Thanh. Trong quân sự người tham mưu là tài tình nhất nhưng ông Giáp lại đơn thuần chỉ là kẻ ấn nút sau khi đã có kẻ khác lập trình sẵn. Phải chăng đây là cái “tài” của ông Giáp?

    (Xin xem tiếp phần 6)

    Trả lờiXóa
  24. (Phần 6)

    http://2.bp.blogspot.com/-s1VTGfbco-o/UiiqNXsp_2I/AAAAAAABYWw/7WH8A9ZZ7zg/s400/temp-danlambao-44.jpg
    (Hình trên) - Võ Nguyên Giáp và Trần Canh

    Thứ ba, tác phẩm “Mao chủ tịch của tôi” của tác giả người Trung cộng - Hà Cẩn (Xin xem thêm “Những sự thật không thể chối bỏ” - phần 11, 12) có viết về sự kiện Điện Biên Phủ tại trang 134 như sau: “Bằng sự sáng tạo của Mao chủ tịch trong việc đưa tới Việt Nam các đồng chí cố vấn mà chiến dịch đã kết thúc thắng lợi với vai trò chính yếu thuộc về thượng tướng Vi Quốc Thanh”.

    http://3.bp.blogspot.com/-QIm_xoohaWc/UiirEHZPWLI/AAAAAAABYW8/mfmzJ_xh1cU/s400/temp-danlambao-44.png
    (Hình trên) - Từ người thứ nhì (bên trái sang): Hoàng Quốc Việt, Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng, Lý Hàm Trân (火腿陳) vợ Lã Quý Ba. Hồ Chí Minh, x, Đại tướng bí danh Lã Quý Ba (罗贵波), Trường Chinh, x... Ảnh chụp tại An Toàn Khu. Nguồn: Hoa Nam MSS.

    http://3.bp.blogspot.com/-IB425cnJ1dw/UiirQlVbmlI/AAAAAAABYXE/bRnY6XMg2JU/s400/temp-danlambao-44.png
    (Hình trên) - Tướng Tầu cộng Trần Canh đang chỉ bảo bộ đội Việt Minh trước khi ra trận.

    Thứ tư, trong cuốn “Đường tới Điện Biên Phủ” của Võ Nguyên Giáp, trong chương I, chính ông Giáp đã khẳng định vài trò của tướng Trung cộng trong chiến dịch biên giới 1950 và Điện Biên Phủ sau này: “Khi trở về Bắc Kinh, Bác đề nghị Trung Quốc cử cố vấn sang giúp Việt Nam nay mai sẽ đi vào đánh lớn. Bác gợi ý bạn cử đồng chí Trần Canh. Phía Trung Quốc trả lời đồng chí Trần đã được bố trí công tác rồi, và đưa ra danh sách gồm 4 người: La Quý Ba, Trung ương ủy viên Đảng Cộng sản Trung Quốc, Trưởng đoàn cố vấn, Vi Quốc Thanh, Trưởng đoàn cố vấn về quân sự, Mai Gia Sinh, cố vấn về công tác tham mưa, Mã Tây Phu, cố vấn về công tác hậu cần.” (6)

    (Xin xem tiếp phần 7)

    Trả lờiXóa
  25. (Phần 7)

    http://4.bp.blogspot.com/-vLuTCKS5L-E/UiisAPhksKI/AAAAAAABYXQ/aStEDX023uo/s400/HCM-Co+van+TC-danlambao.gif
    (Hình trên) - Hồ Chí Minh và các cố vấn Trung cộng

    Một người chưa học qua trường lớp quân sự liệu có thể chỉ huy chiến dịch được không? Câu trả lời là không và chính vì vậy Hồ Chí Minh đã phải mời chuyên gia Trung cộng sang để vạch kế hoạc cho ông Giáp.

    Thứ năm, cuốn sách: “A reporter's love for a wounded people”của tác giả Uwe Siemon-Netto người Đức đã mô tả về ông Giáp như sau:

    “Trong một cuốn sách gây chú ý về đoàn quân Lê Dương Pháp, Paul Bonnecarrère đã kể lại cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đại tá đầy huyền thoại Pierre Charton và Tướng Võ Nguyên Giáp sau khi Pháp thất trận tại Điên Biên Phủ (Bonnecarrère. Par le Sang Versé. Paris: 1968). Charton là tù binh trong tay Cộng sản Việt Minh. Giáp đến thăm Charton nhưng cũng để hả hê. Cuộc gặp gỡ xảy ra trong một lớp học trước mặt khoảng 20 học viên đang tham dự một buổi tuyên truyền chính trị. Cuộc đối thoại giữa hai nhân vật đối chọi nhau đã xảy ra như sau:

    Giáp: “Tôi đã đánh bại ông, thưa Đại tá!"

    Charton: “Không, ông không đánh bại tôi, thưa Đại tướng. Rừng rậm đã đánh bại chúng tôi... cùng sự hỗ trợ các ông đã nhận được từ người dân bằng các phương tiện khủng bố."

    Võ Nguyên Giáp không ưa câu trả lời này và cấm các học viên không được ghi chép nó. Nhưng đó là sự thật, hay chính xác hơn: đó là một nửa của sự thật.”

    Đoạn này tác giả Netto cho thấy đánh giá của ông không chỉ đơn thuần là của ông mà bao gồm cả viên tướng Charton rằng: “Võ Nguyên Giáp chỉ thắng nhờ các yếu tố khác không phải tài năng quân sự”.

    Và Netto tiếp trong cuốn sách của mình: “Tuy nhiên tôi không thể kết thúc câu chuyện ở đây bằng điều tăm tối này được. Là một người quan sát về lịch sử, tôi biết là lịch sử, mặc dù được khép kín trong quá khứ, vẫn luôn luôn mở rộng ra tương lai. Là một Ki-Tô hữu tôi biết ai là Chúa của lịch sử. Chiến thắng của Cộng sản dựa vào những căn bản độc ác: khủng bố, tàn sát và phản bội”. Điều đó thay cho kết luận về một sự “tài hoa” giả tạo của ông Giáp.

    http://1.bp.blogspot.com/-iDsvU7FP1eQ/Uiis8VwNKXI/AAAAAAABYXc/OCX6DJxo3EY/s400/temp-danlambao-44.jpg
    (Hình trên) - Tác giả Netto người Đức viết về cộng sản và Võ Nguyên Giáp (đứng thứ 3 từ trái qua)

    Thứ sáu, mạng sống của thanh niên Việt Nam bị ông Giáp coi như cỏ rác. Ông Giáp sẵn sàng thí quân trong các trận chiến. Trong trận chiến tranh biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn năm 1950, để tiêu diệt cứ điểm Đông Khê do 262 lính Pháp trấn đóng, ông Giáp đã dùng tới 10.000 quân (đông hơn quân trú phòng 40 lần). Sau trận đánh, hơn 500 quân Việt tử trận, không kể số bị thương hàng ngàn. Trong trận đồng bằng Phủ Lý, Ninh Bình vào tháng 5 và nhất là trong trận Vĩnh Yên vào tháng 1 năm 1951, chiến thuật biển người của Giáp tại đã bị Tướng Pháp De Lattre de Tassigny dùng bom Napalm tiêu diệt. Quân Cộng sản, dưới sự chỉ huy của ông Giáp, đã bị nhiều tử vong, thất bại trong ý đồ đưa chiến tranh về đồng bằng. Số tử vong của quân đội cộng sản, khi tháo lui, là trên 6000 người. Số bị thương chắc chắn là gấp đôi, gấp ba con số 6000.

    Tại tài liệu của quân ủy quân đội cộng sản số 03 (BC - 03/QU) ngày 12/12/1953 ghi rõ: “Phía Trung Quốc nhấn mạnh Việt Minh cần giữ nguyên kế hoạch tập trung vào Tây Bắc và Lào. Lãnh đạo Trung Quốc cho rằng nếu thực thi chiến thuật này, Việt Minh có thể chuẩn bị lực lượng cho công cuộc đánh chiếm đồng bằng sông Hồng và cuối cùng sẽ đánh bại Pháp ở Đông Dương. Tháng 9, Bộ Chính trị không thông qua kế hoạch của đồng chí Võ Nguyên Giáp mà phải thực hiện theo kế hoạch của các đồng chí cố vấn Trung Quốc. Ngày 27 tháng 10 năm 1953, Đồng chí Vy Quốc Thanh trao cho chúng ta một bản sao kế hoạch của Navarre mà tình báo Trung Cộng đã thu đoạt được. Sau khi xem xét, quân ủy nhận thấy đề nghị của Trung Quốc là đúng. Toàn quân, nếu theo đúng kế hoạch của Trung Quốc, có thể phá vỡ kế hoạch của Navarre.”

    Qua đây chúng ta thấy gì? Đó là ông Giáp chỉ là hư danh mà thôi. Còn thực chất cái “tài” của ông là do có được từ các cố vấn Tầu.

    (Xin xem tiếp phần 8)

    Trả lờiXóa
  26. (Phần 8)

    Theo như tác giả Bùi Tín: “Ông Giáp thường không có thói quen ra thị sát Mặt trận. Ở trận chiến Điện Biên Phủ, người ta chỉ thấy vài bức hình chụp ông với Hồ Chí Minh, tại Bộ Chỉ huy chiến dịch - bao giờ cũng trải vài tấm bản đồ, tay thì chỉ chõ - đóng kịch - như thể đánh nhau chỉ cần chỉ chõ bằng bản đồ - và ông trú ẩn an toàn tại Bộ chỉ huy ĐBP tại hang Thẩm Púa, thuộc Mường Phăng. Hang Thẩm Púa cách Điện Biên Phủ bao nhiêu cây số, thưa đại tướng? Sau khi chiến thắng Điện Biên Phủ, ông đi thị sát mặt trận, quần áo chỉnh tề, chân đi giầy ủng cao đến đầu gối!”. Như vậy là quá đủ để nói về một vị tướng “tài” như ông Giáp thời chống Pháp.

    b. Cuộc chiến với VNCH:

    Chiến thuật của Võ Nguyên Giáp trong chiến tranh là: Chiến tranh du kích và Chiến thuật bao vậy, biển người xung phong. Về chiến tranh du kích, thì mục đích là làm cho kẻ địch suy yếu, nản lòng, để cuối cùng tiến hành một cuộc chiến quy mô lớn để chiến thắng. Võ Nguyên Giáp áp dụng bài bản, không có sáng tạo gì đặc biệt. Đây làm một chiến thuật cổ xưa mà ai cũng biết thậm chí chỉ cần qua vài quyển sách. Về chiến thuật bao vây, Võ Nguyên Giáp cũng áp dụng một cách rất sơ đẳng, không có sáng kiến gì đặc biệt. Các bước chính của chiến thuật bao vây là chặn và cắt đứt đường tiếp viện của đối phương, siết chặt vòng vây và đánh úp. Võ Nguyên Giáp thành công ở Điện Biên Phủ vì quân Pháp không đảm bảo được tiếp viện. Còn tại Khe Sanh, Võ Nguyên Giáp thảm bại vì không nắm được một yếu tố cơ bản là quân Mỹ thiết lập cầu không vận, nên việc tiếp viện không bị gián đoạn. Võ Nguyên Giáp nướng hơn 10 000 quân việt cộng và thảm bại vì lý do này... Cuối cùng là chiến thuật biển người học tập mô hình của Trung cộng chứ không phải của ông Giáp cũng khiến cho hàng triệu người chết oan uổng để tô đẹp cho thành tích của ông ta.

    Thứ nhất, theo Sắc Lệnh số 110/SL ngày 28 5/1948, Giáp được phong quân hàm Đại tướng, vị Đại tướng đầu tiên của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam lúc vừa tròn 37 tuổi. Về sau, nhân vụ phong tướng nầy, mà một ký giả ngoại quốc đã hỏi ông Hồ, dựa vào đâu, và căn cứ vào tiêu chuẩn nào để phong quân hàm cho một lúc nhiều người như vậy. Hồ Chí Minh đã trả lời, “Ai đánh thắng đại tá thì phong đại tá, thắng thiếu tướng thì phong thiếu tướng, ai đánh thắng trung tướng thì phong trung tướng, và ai đánh thắng đại tướng thì phong đại tướng”. Cũng chính vì đại tướng được phong kiểu của cộng sản mà đã gặp phải thảm bại khi gặp người Mỹ: “Năm 1968, Khi Võ Nguyên Giáp dùng 3 Sư đoàn bộ binh và trọng pháo bao vây toan lấy chiến thuật “biển người” để tiêu diệt 6,000 Thủy Quân Lục Chiến Mỹ cùng khoảng 200 tay súng Biệt Động Quân QL/VNCH trên đồi Khe Sanh, Quảng Trị. Nhưng không chiếm nỗi, đổi lại Phía CS Bắc Việt bị pháo đài bay B52 trải thảm tiêu diệt từ 10 đến 15, 000 bộ đội - Đó là chưa kể thiệt hại trên các phương diện khác như quân cụ, chiến thuật, cùng hàng ngàn thương binh”. (Tom Carhart: Batles And Campaigns In Vietnam, tr. 130).

    Thứ hai, năm 1972, đích thân Võ Nguyên Giáp chỉ huy chiến dịch Trị-Thiên, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ (Mùa hè đỏ lửa) Trên địa hình nhỏ hẹp dài, bên núi, bên biển, Vùng Chiến thuật 1, Cùng lúc 6 sư đoàn CS Bắc Việt hành quân tiến công trong tình cảnh liên tục bị bom rải thảm B-52, pháo kích từ chiến hạm Mỹ, pháo kích từ Vùng Chiến thuật 1. Quân cộng sản bị chặn lại, chỉ chiếm được nửa phía Bắc tỉnh Quảng Trị. Theo thông tin nội bộ thì cộng sản này cho biết, trong suốt 9 tháng chiến dịch, sư đoàn 308 thương vong 70% quân số; Sư đoàn 312 đã bổ sung quân 13 đợt, mỗi đợt 500 người; sư đoàn 320 thương vong 80% quân số. Các sư đoàn còn lại tham chiến đều mất ít nhất nửa số quân. Tổng thương vong lên tới hơn 30 ngàn người (trong đó gần 14.000 hy sinh). Chiến dịch cũng khiến cộng sản tiêu tốn hơn 300.000 viên đạn pháo gần 4/5 lượng đạn pháo trong kho, dẫn đến tình trạng thiếu đạn, chỉ còn 100.000 viên cuối năm 1974. mà không có được một thành quả cụ thể chiến thắng nào. Để khẳng định điều này thì chính tài liệu của cộng sản đã khẳng định.

    (Xin xem tiếp phần 9)

    Trả lờiXóa
  27. (Phần 9)

    Trong cuốn sách có tên gọi tạm dịch ra tiếng Việt “Liên Xô - Trung Quốc và Việt Nam, vấn đề chưa được biết” của tác giả người Nga, Ruslan Kobachenko, nhà giáo kiêm nhà nghiên cứu lịch sử Châu Á từng giảng dạy tại đại học Minsk-Nga, ông cũng là đảng viên đảng cộng sản Liên Xô. Cuốn sách này đã được nhà xuất bản Lịch sử của Liên Bang Nga xuất bản năm 1995, có đoạn trong trang 240 như sau: “Về cơ bản chiến dịch tổng tấn công mùa hè năm 1972 của quân đội ông Giáp thất bại hoàn toàn mà không đem lại lợi ích nào cụ thể. Cái được lớn nhất chỉ là kinh nghiệm cho cuộc chiến sau này. Nhưng có lẽ ông Giáp là người phải chịu trách nhiệm cao nhất cho cái chết của hơn 15 nghìn người lính...”

    Cũng là một tài liệu cộng sản khác khẳng định điều này đó là tài liệu tổng kết chiến dịch mùa hè 1972 của bộ tổng tham mưu có bí số KHTM/1972- BQP cho biết: “Chúng ta đã thiệt hại nặng nề nhất kể từ sau tổng tiến công Mậu thân năm 1968 mà cần phải một thời gian chừng 4 năm nữa mới có thể khôi phục lại...”

    Thứ ba, chính ông Giáp đã kể lại trong lần sinh nhật thứ 84 của mình như sau: “Năm 1972, còn gọi là chiến dịch đỏ lửa tại thành cổ Quảng Trị. Khi đó, tôi vẫn lấy phương châm tiến công như mọi khi: 'Lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh, lấy yếu tố bất ngờ để tạo thế chủ động, khiến địch trở tay không kịp'. Cứ dùng chiến tranh du kích tiêu diệt hàng ngày, hàng giờ, hết đêm này sang đêm khác để địch suy tổn lực lượng rồi đánh cấp tập một trận giải phóng dứt điểm thành cổ như mọi trận khác vẫn diễn ra từ trước đến nay. Không ngờ quan điểm của tôi bị Ba Duẩn (Lê Duẩn) bác bỏ không thương tiếc. Giữa hội nghị, anh Ba đập tay xuống bàn, quát: "Thế là giảm sút ý chí chiến đấu. Phải cho địch biết thế nào là quả đấm chủ lực của quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Vì vậy tôi yêu cầu, cứ đánh vỗ mặt thành cổ Quảng Trị cho tôi. Sống chết, đúng sai tôi chịu trách nhiệm."

    Kết quả trong suốt 60 ngày đêm của chiến dịch thành cổ, cứ 5 giờ 30 phút chiều, khi trời bắt đầu chập choạng tối, một đại đội ta ở bên này bờ sông Thạch Hãn, lặng lẽ bơi sang để đánh vỗ mặt thành, 8 giờ 30 phút bơi trở về chỉ còn được mươi, mười lăm người. Lần nhiều nhất là 35 đồng chí (cả lành lặn, cả bị thương). Lần ít chỉ còn 5, 7 đồng chí thương tích đầy người, thậm chí có lần cả một khúc sông, không một bóng người, chỉ có tiếng gió hú ghê rợn như những âm hồn vọng vang khắp đáy sông. Như vậy, trung bình mỗi ngày ta tiêu hao một đại đội chủ lực (khoảng 135 người) và 60 ngày đêm tấn công thành cổ ta mất gần một vạn người, biến thành cổ Quảng Trị thành nấm mồ chôn thanh niên, sinh viên, trí thức Việt Nam.”

    Vậy đâu là cái tài của ông Giáp? Có lẽ chỉ là nướng quân mà thôi.

    Trong khuôn khổ một bài viết chỉ có thể điểm lại và tóm lược các sự việc một cách ngắn gọn nhất không cho phép đi quá dài về một vấn đề. Trong phần tướng Giáp với VNCH và Mỹ này tôi xin mời bạn đọc đọc thêm “Những sự thật cần phải biết - Phần 1” để thấy đâu là nguyên do “chiến thắng” trên mặt quân sự của cộng sản năm 1975. Và từ đó bạn đọc có cái nhìn rõ hơn về cái “tài” của ông Giáp.

    c. Cuộc chiến năm 1979 với Trung cộng:

    http://2.bp.blogspot.com/-eeOjGGU-T3M/UiivNavyhGI/AAAAAAABYXo/shE2cTb0P4U/s400/temp-danlambao-44.jpg
    (Hình trên) - Võ Nguyên Giáp và Trần Canh năm 1950

    Trong cuộc chiến Việt - Trung tháng 2-1979 thì quân đội cộng sản hoàn toàn bị bất ngờ. Để trừng phạt Việt nam, Trung cộng đã sử dụng 10 quân đoàn chủ lực và một số sư đoàn độc lập, bao gồm 300.000 binh sĩ, 550 xe tăng, 480 khẩu pháo, 1.260 súng cối, hỏa tiễn, chưa kể hơn 200 tàu chiến của hạm đội Nam Hải và 1.700 máy bay phía sau.

    Các nguồn tin phương Tây nhận định rằng Trung cộng đã mất từ 60 đến 90 ngày để đưa quân vào các vị trí tập kết sẵn sàng cho các mũi tấn công. Chỉ cần là nhân viên quân báo cấp trung đoàn, hay các tổ trinh sát đặc biệt cũng nhận ra được ý đồ, và ngày giờ khai hỏa của đối phương, nói gì đến tình báo chiến lược.

    (Xin xem tiếp phần 10)

    Trả lờiXóa
  28. (Phần 10)

    Mờ sáng ngày 17-2-1979, Trung cộng tấn công trên toàn tuyến biên giới dài 1.400 Km, trải rộng trong một khoảng không gian gồm 7 tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh.

    Việt Nam hoàn toàn không hay biết gì, khi Trung cộng tràn qua biên giới, thì thủ tướng Phạm Văn Đồng và đại tướng Văn Tiến Dũng, tổng tham mưu trưởng, đang thăm Campuchia. Dân chúng không được thông báo trước, trẻ em, người già, và phụ nữ có thai, không kịp di tản ra khỏi vùng chiến địa. Trung cộng đã tạo ra được một yếu tố bất ngờ đến ngoạn mục. Câu hỏi được đặt ra là tướng Giáp đã ở đâu? Ông đã làm gì khi vận mệnh nước Việt bị quân đội do ông lãnh đạo không hề hay biết giặc tập trung và tấn công? Có lẽ là do ông bất tài.

    Chúng ta phải quay lại thời kỳ trước đó, tháng 11-1978, Đặng Tiểu Bình công du Thái Lan, Malaysia và Singapore. Đặng Tiểu Bình nói với các vị chủ nhà rằng Trung Quốc sẽ dùng vũ lực nếu Việt Nam tấn công Campuchia và đã gọi Việt Nam là những tên du côn của phương Đông, phải dạy cho chúng một bài học.

    Ngày 28-1-1979, Đặng Tiểu Bình thăm Mỹ, và tuyên bố “Chúng tôi không thể cho phép Việt Nam gây rối loạn khắp nơi”, “ Trung Quốc kiên định đứng về phía Campuchia phản đối bọn xâm lược Việt Nam”. Giọng điệu chiến tranh của Đặng rất rõ. Báo chí Mỹ loan tải sớm muộn gì thì một cuộc chiến giữa hai nước cộng sản sẽ nổ ra.

    Sau 3 ngày thăm Mỹ, Đặng Tiểu Bình đến Nhật và tại đây vẫn giọng điệu hung hăng “Để trừng phạt Việt nam, dù có gặp những nguy hiểm cũng phải hành động”; “Không trừng phạt kẻ xâm lược, sẽ tạo ra những nguy hiểm phản ứng dây chuyền”, “Đối phó với loại người vô ơn như thế, không có những bài học cần thiết thì e rằng các hình thức khác đều không có hiệu quả”.

    Cũng khoảng thời gian này, TASS - hãng thông tấn của Liên Xô cũng đưa tin một lực lượng rất lớn quân đội Trung Quốc đang áp sát biên giới Việt-Trung. Từ Nhật về, Đặng Tiểu Bình chỉ thị tấn công Việt Nam vào ngày 17-2. Thời gian của chiến dịch không dài hơn cuộc chiến một tháng với Ấn Độ (1962), không gian của cuộc chiến sẽ tiến hành một cách hạn chế, trong phạm vi trên dưới 50 cây số từ biên giới.

    Bằng chứng Đặng Tiểu Bình sẽ trừng phạt Việt Nam đã rõ như ban ngày, nhưng không hiểu vì sao phía Việt Nam và nhất là quân đội tướng Giáp lại không hề hay biết? Có lẽ cái “tài” nhận định, đánh giá tình hình của tướng Giáp chính là đây.

    Thiếu tin tình báo, nhận định và phân tích tình hình sai, không nắm được thời điểm nổ súng, thời gian, không gian, và quy mô chiến dịch của đối phương, đã dẫn đến việc tướng Giáp không hề bố trí những quân đoàn chủ lực dọc biên giới. Tất cả phó thác cho dân quân tự vệ, bộ đội địa phương, và một vài trung đoàn độc lập.

    Sau những ngày chiến đấu ngoan cường nhưng đơn độc của sư đoàn Sao Vàng trước một đối phương áp đảo về số lượng và hỏa lực, ngày 4-3-1979, Lạng Sơn thất thủ. Sáng 5-3, Trung Quốc tuyên bố đã hoàn thành mục tiêu của cuộc trừng phạt, chiến thắng vẻ vang, và quyết định rút quân. Cùng ngày 5-3, Việt Nam phát lệnh “Tổng Động Viên”. Những quân đoàn chủ lực của quân đội cộng sản có xe tăng, pháo binh, và không quân từ chiến trường Campuchia trở về, cùng với một địa hình muôn vàn hiểm trở của núi rừng miền Bắc, Việt Nam đã vào vị trí vây hãm Trung cộng. Tất cả đã sẵn sàng cho cuộc phản kích, mà phần thắng sẽ thuộc về tay quân của ông Giáp. Nhưng thật bất ngờ, Việt Nam lại tuyên bố “Thiện Chí Hòa Bình”, rằng truyền thống ông cha ta... rằng lòng cao thượng... rằng lòng nhân đạo của dân tộc ta... Việt Nam sẽ để cho Trung cộng rút quân an toàn.

    Sự thật trên đường rút quân, Trung cộng vẫn chém giết, vơ vét, và phá hoại. Vụ thảm sát ngày 9 tháng 3 tại Đổng Chú, huyện Hòa An, Cao Bằng là một thí dụ. Trung cộng đã dùng búa, dao giết 43 người, gồm 21 phụ nữ trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai, 20 trẻ em, và 2 người đàn ông, rồi ném xác xuống giếng hoặc chặt ra nhiều khúc vứt hai bên bờ suối. Trung cộng có đủ thời gian và không gian để phá hoại hạ tầng cơ sở, chiếm giữ những điểm cao quan trọng, và gài lại hàng triệu trái mìn cá nhân trên đường rút lui.

    (Xin xem tiếp phần 11)

    Trả lờiXóa
  29. (Phần 11)

    Quyết định “Thiện Chí Hòa Bình” của cộng sản Việt Nam hình như là một thái độ thủ hòa, nhưng hòa vào một thế vô cùng bất lợi. Từ đó, trong bất kỳ những cuộc thương thảo nào về biên giới, Trung Quốc luôn ở thế kẻ cả, áp đảo, và lấn lướt mà chúng ta thấy rất rõ. Đây là hệ lụy từ sai lầm mang tính chiến lược do tướng Giáp và Bộ tổng tham mưu gây ra.

    http://2.bp.blogspot.com/-GS02DAKLdag/UiiwXG7-A4I/AAAAAAABYX0/holtBfq18yo/s400/temp-danlambao-44.png
    (Hình trên) - Bệnh viện huyện Trùng Khánh, Cao Bằng bị quân Trung cộng tàn phá tháng 2.1979

    Sự thật thì không chỉ có cuộc chiến năm 1979 mới thể hiện rõ sự kém cỏi của tướng Giáp. Mà ngay cả sau này sự việc mất Lão Sơn cũng là do lỗi của ông và đội quân dưới trướng ông.

    III. Một vị tướng ác:

    Trong một lần phóng viên báo chí quốc tế tại Hà Nội, phóng viên phỏng vấn ông Giáp: “...Ngài có hối tiếc gì về hơn 4 triệu người Việt Nam đã chết vì cuộc nội chiến ý thức hệ Cộng Sản?...” - Ông Võ Nguyên Giáp không đắn đo điềm nhiên trả lời bằng tiếng Pháp: “(Non, pas du tout) “không hề hối tiếc”. Và trong quá khứ, Võ Nguyên Giáp đã từng tuyên bố: “Nếu phải hy sinh 2/3 dân số để giành lại Tổ Quốc trong tay ngoại bang thì ta cũng làm!” và Võ Nguyên Giáp đã làm những điều ông ta tuyên bố... Có lẽ vì vậy mà ông đúng là một vị tướng không tiếc thương quân của mình chỉ với mục đích lập nên những hư danh, hay nói cách khác ông chính là một vị tướng Ác. Để chứng minh điều này chúng ta cần phải tìm hiểu một số luận điểm như sau.

    Thứ nhất, theo ông Philippe de Villiers, một sử gia nổi tiếng Pháp, tác giả quyển “Histore Contemporaine de l'Indochine” và ông Hoàng Văn Đào, tác giả quyển “Việt Nam Quốc Dân Đảng” cho biết: “Khi Hồ Chí Minh qua Pháp, đã giao cho cụ Huỳnh Thúc Kháng lúc đó đang giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội Vụ được tạm quyền thay thế chủ tịch Nước. Võ Nguyên Giáp lợi dụng lúc cụ Kháng đi kinh lý tỉnh Quảng Nam - lúc đó ông Giáp tuy đang giữ Bộ Quốc Phòng - trong mưu đồ có phương tiện và cơ hội ra tay triệt hạ các chiến sĩ quốc gia chống VM cộng sản, Giáp lại đề nghị kiêm luôn chức vụ Bộ trưởng Bộ Nội Vụ để tiện hành xử… Chỉ cần đợi lệnh Bộ Nội Vụ, “cương quyết trị tội” những kẻ làm việc phi pháp thì đến ngày 13-7 Võ Nguyên Giáp lệnh cho bộ đội và công an các địa phương được phép tấn công triệt hạ các chiến khu VNQDĐ, trừ trụ sở Trung Ương Hà Nội. Và chỉ trong vòng một tháng thì bàn tay đẫm máu của Giáp đã triệt hạ và tận diệt hết lực lượng quốc gia và chiến sĩ yêu nước liên hệ...”

    Qua điều này chúng ta thấy điều gì? Đó là Võ Nguyên Giáp quá ác độc với chính đồng bào mình và thủ tiêu đảng phái khác mà cụ thể đây chính là Việt Nam Quốc Dân Đảng. Đây chính là mình chứng cho thấy ông Giáp rất tàn ác.

    Thứ hai, đánh giá về hành động ám sát khủng bố những người quốc gia không cộng sản có nhiều bằng chứng về ông Giáp là một tên đồ tể “H. Berrier còn cho rằng vào năm 1944, những ngày đầu tiên khi còn hoạt động bên cạnh Hồ Chí Minh tại Hà Nội. Tướng Bình đã cùng với Võ Nguyên Giáp ám sát, khủng bố những thành phần quốc gia chống Pháp mà trước đây Bình từng là đồng chí với họ thời năm 1930. Bình và tướng Giáp đả mở những cuộc thanh trừng và sát hại rất nhiều thành phần được coi là Việt Gian. Khi giết những đồng chí Quốc Dân Đảng, phải chăng Nguyễn Bình muốn trả cái thù bị đâm chột mắt khi còn bị giam ở Côn Đảo? Rõ ràng cái gợi hứng ám sát và thủ tiêu những thành phần thù địch, Nguyễn Bình bước đầu cùng đi một con đường với tướng Giáp” (Tóm lược Hillaire du Berrier, Background to Betrayal, trang 66-67 của Nguyên Hùng).

    (Xin xem tiếp phần 12)

    Trả lờiXóa
  30. (Phần 12)

    Và sau đó thì hãy nghe lời tướng Giáp nói với Nguyễn Bình để thấy ông Giáp quyết tâm thanh trừng người yêu nước không cộng sản thế nào: “Anh hãy nghe đây, tướng Giáp nói với Bình: Anh là một người quốc gia thông minh. Anh phải đứng chung trong hàng ngũ của chúng tôi nếu không chúng tôi sẽ thủ tiêu những người bạn trẻ của anh. Chúng tôi phải làm như vậy bởi vì họ sau này có thể là những kẻ phản bội. Anh đã biết nếu những người này trở thành những người anh hùng? Bây giờ thì có thể họ chưa là gì, nhưng sau này thì họ sẽ đi vào lịch sử. Bởi vì họ đã làm được một số công trạng trong những năm vừa qua, họ ham muốn quyền lực. Nhưng họ lại không xứng đáng được. Và để đạt được quyền lực đó, họ chỉ có một con đường mà họ có thể làm được. Là họ sẽ cộng tác bắt tay với bọn Quốc Dân Đảng hoặc với Pháp. Họ phải bỏ đi thôi.” (Tóm lược Hillaire du Berrier, Background to Betrayal, trang 66-67 của Nguyên Hùng).

    Chính vì vậy, nhìn toàn diện các hoạt động khủng bố, ám sát ở những ngày đầu cuộc kháng chiến, ta phải coi ông Giáp là người chủ trương như nhận xét của Robert J O’ Neill: “Tướng Võ Nguyên Giáp chịu tất cả mọi trách nhiệm trong khi Hồ Chí Minh vắng mặt về việc sát hại hằng trăm các nhà chính trị dám chống lại Việt Minh, phá hại tất cả các tổ chức nào xem ra có thể cạnh tranh với Việt Minh cũng như cấm đoán mọi tờ báo nào xuất bản mà không có sự kiểm soát của Việt Minh. Ông cũng đã thiết lập được một quân đội từ 30.000 lên 60.000 cũng như một đơn vị tự vệ từ các thường dân…”(Trích “Robert J O’ Neill, General Giap: Politician & Strategist, trang 44”).

    Thứ ba, trong cuộc phỏng vấn tạp chí George năm 1998, chính tướng William Childs Westmoreland - Tư lệnh Bộ chỉ huy cố vấn quân sự Mỹ tại miền Nam Việt Nam - nói về tướng Võ Nguyên Giáp của quân đội cộng sản như sau: “Of course, he was a formidable adversary... By his own admission, by early 1969, I think, he had lost, what, a half million soldiers? He reported this. Now such a disregard for human life may make a formidable adversary, but it does not make a military genius. An American commander losing men like that would hardly have lasted more than a few weeks”. Xin được tạm dịch là: “Dĩ nhiên, ông ta là một đối thủ (kẻ thù) ghê gớm... Với sự thừa nhận của chính ông ta, đến đầu năm 1969, tôi nghĩ, ông ta đã mất nửa triệu lính? Ông ta đã báo cáo điều này. Hiện tại, một sự coi thường mạng người như thế có lẽ sẽ tạo nên một đối thủ (kẻ thù) ghê gớm, nhưng nó không tạo nên một thiên tài quân sự. Một chỉ huy Mỹ, nếu để thất thoát nhiều binh sĩ như thế, chắc khó có thể đứng vững hơn một vài tuần lễ”.

    Chúng ta cũng phải nhận thấy một điều là với Westmoreland, một chiến thắng quân sự dựa trên chiến thuật đẫm máu, coi thường sinh mạng binh sĩ chỉ có thể tạo nên một kẻ thù nguy hiểm chứ không tạo nên một thiên tài quân sự. Điều này cho thấy cộng sản Việt Nam thật sự tàn độc và coi thường sinh mạng binh sĩ. Đây không chỉ là điều ám chỉ mình tướng Giáp công thành khiến “vạn cốt khô” mà nó còn ám chỉ bản chất không từ bỏ bất cứ một thủ đoạn nào của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam. Mục đích của cộng sản là lợi dụng xương máu của nhân dân để đem lại lợi ích cho đảng mà không có chút tình người, tình dân tộc nào ở đây. Tướng Westmoreland cũng khá sâu sắc khi dùng từ “formidable” vì nó có nghĩa như là sự khủng bố mà chính cộng sản Việt Nam gây ra cho nhân dân 2 miền.

    Thứ tư, để khẳng định thêm về việc coi thường sinh mạng chính đồng chí mình trong cuộc chiến, mời các bạn đọc bức thư sau đây.

    http://3.bp.blogspot.com/-xy3_OddBcnU/UiiyjxSqMeI/AAAAAAABYYA/br4lPkhl8a8/s1600/vonguyengiap-0393.jpg
    (Hình trên) - Bức thư ngõ của Trung tướng J.H.Hay Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh Hoa Kỳ

    (Xin xem tiếp phần 13)

    Trả lờiXóa
  31. (Phần 13)

    Thứ năm, người chiến sỹ là bộ đội cộng sản ra trận không chỉ bởi những thúc ép từ quê nhà bằng chính sách hộ khẩu và đấu tố đào ngũ mà còn ngay tại mặt trận họ bị bắt ép phải chết vì đảng cộng sản. Xin lấy một vài ví dụ:

    http://3.bp.blogspot.com/-KfL_GHDaY-Y/Uiiy8HSTWkI/AAAAAAABYYI/Z7TPm1yeJaQ/s1600/temp-danlambao-44.png
    (Hình trên) - Bộ đội bị xích chân cùng xe tăng T54 khi tấn công

    Cuốn sách “Stalking the Vietcong” (7) tại trang 207 đã có hình ảnh và minh chứng cho việc quân đội cộng sản đẩy những thanh niên vào những sợi xích chân bắt buộc họ phải hi sinh oan uổng vì chủ nghĩa cộng sản.

    Cũng nói về việc cưỡng bức và lên dây cót tinh thần chiến đấu của các chiến sỹ bộ đội cộng sản, đảng đã không từ bỏ bất cứ thủ đoạn nào. Trong cuốn “Mặt trái của chiến tranh” do Hội Văn nghệ quân đội Nga xuất bản năm 1995 có viết tại trang 15: “Các cuộc chiến đều đem lại đau thương và người ta thậm chí còn kích thích tinh thần người chiến sỹ bằng những liều thuốc. Người Đức dùng Ma túy tổng hợp, người Trung Quốc dùng thuốc tự chế tên gọi “hùng tâm” mà sau này có dùng trong chiến tranh Việt Nam cho quân đội Miền Bắc...”

    Vậy ông Giáp đã ở đâu khi để quân của ông phải chết vì những cái chết oan uổng đó? Nếu làm tướng mà xây danh vọng trên xác binh lính một cách phi nghĩa và độc ác như thế thì có đáng được tôn vinh hay không?. Tôi mong những giây phút cuối đời ông Giáp hãy dũng cảm nói lên sư thật này.

    Ngoài ra, ông Giáp nghĩ gì khi chính bộ chính trị và quân ủy quyết định dùng trẻ em như những quân bài tẩy trong chiến tranh (Xin xem thêm “Những sự thật cần phải biết - phần 11”). Một vi tướng dùng trẻ em để hi sinh có phải là anh hùng không? Anh hùng thì chắc chắn là không mà cái Ác thì chắc chắn là có.

    (Xin xem tiếp phần 14 - Phần cuối)

    Trả lờiXóa
  32. (Phần 14 - Phần cuối)

    Thứ sáu, để kết luận về tính “ác” của ông Giáp thì hãy đọc đoạn sau đây trong cuốn Losers are Pirates by James Banerian1984, Tr.69): “Năm 1946, Hồ Chí Minh ký hòa ước với Pháp để quân Pháp trở lại Việt Nam. Các lãnh tụ Công Sản, trong đó có Giáp, đã thẳng tay tiêu diệt các người quốc gia Năm 1946, khi cuộc chiến tranh Việt - Pháp sắp xảy ra, Giáp là Bộ Trưởng Quốc phòng trong Chánh phủ liên hiệp. Tại Hà Nội, trong khi quân Pháp và Tự Vệ Thành đang gầm ghè nhau, Giáp và đồng bọn hứa hẹn là quân chánh qui của họ tức các đơn vị Vệ Quốc Đoàn tinh nhuệ đã kéo về đóng chung quanh Hà Nội, sẵn sàng làm cỏ quân Pháp. Ngày 19 tháng 12, chiến tranh bùng nổ tại Hà Nội. Nhóm lãnh đạo Cộng Sản đã rút về Hà Đông từ mấy ngày trước. Vệ Quốc Đoàn đâu chẳng thấy, chỉ thấy các Tự Vệ Thành đánh vùi với quân Pháp trong các đường phố Hà Nội. Họ đã cầm cự với quân Pháp trong gần 2 tháng, thời gian đủ để dân chúng rời thành phố lánh nạn, đủ để đám Cộng Sản rút vào các an toàn khu Việt Bắc. Giáp và đồng bọn muốn mượn tay quân Pháp để thủ tiêu các thanh niên Hà Nội.”

    Chúng ta thấy ở đây điều gì? Đó là ông Giáp đã có đầy đủ bản chất của những người lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam, kể từ Hồ Chí Minh trở xuống, là gian hùng, dối trá, thâm độc và tàn bạo.

    IV. Kết luận:

    Năm 1983, Võ Nguyên Giáp bị Lê Đức Thọ, Lê Duẩn hạ nhục bằng cách cho đi làm Chủ tịch Ủy Ban sinh đẻ có kế hoạch. Ông Giáp đã ngậm bồ hòn làm ngọt, ngoan ngoãn vâng lời. Ngày trước, trong vụ Nhân văn Giai phẩm xảy ra tại miền Bắc năm 1955, nhiều người đã ở trong Quân Đội Nhân dân của Giáp như Trần Dần, Hoàng Cầm, Quang Dũng, Phùng Quán... bị đem ra đấu tố, tù đầy, Giáp vẫn giữ im lặng. Trong vụ án chống đảng do đám Lê Duẩn, Lê Đức Thọ chủ mưu, các tướng Cộng sản đàn em của Giáp như Lê Liêm, Đặng Kim Giang, Nguyễn Văn Vịnh, các Đại tá thuộc cấp của Giáp như Lê Minh Nghĩa, Lê Vinh Quốc, Văn Dzoãn... bị hãm hại; Giáp vẫn ngoảnh mặt làm ngơ. Khi các tướng Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái (cũng là thông gia của ông Giáp) bị đột tử sau khi miền Nam đã bị cộng sản hóa thì ông Giáp vẫn ngậm miệng, im lặng là vàng.

    Ông Giáp đã để lộ rõ cái hèn của mình. Ông Giáp kệ mặc đàn em bị thảm sát, tù đày. Theo nhà báo Bùi Tín, cựu Phó Tổng Biên tập của báo Cộng Sản Quân Đội Nhân dân, sở dĩ ông Giáp không bị đám Lê Đức Thọ, Lê Duẩn thủ tiêu vì Giáp biết thủ nghĩa: “Anh Văn quá hèn”. Chức vụ coi về sanh đẻ năm 1983 là một hình thức hạ nhục Giáp do đám Lê Duẩn, Lê Đức Thọ chủ trương. Để nói về việc hạ nhục này, trong dân gian có truyền tụng hai câu thơ diễu cợt đượm đầy mỉa mai:

    “Ngày xưa Đại tướng cầm quân
    Ngày nay Đại tướng cầm quần chị em”.

    Với tôi, trong bài viết này không quan trọng chuyện đó vì đây là thuộc phạm trù con người. Ông Giáp có quyền né tránh và thủ thân cho mình.

    Tuy nhiên cái không được của ông Giáp ở đây chính là ông quá bất tài nhưng không chịu chấp nhận sự thật đó mà vẫn mặc kệ im lặng để cộng sản tô vẽ nhưng cái ông không có. Ngoài ra, bằng sự coi thường sinh mệnh nhân dân, sinh mệnh chiến sỹ thì ông Giáp xứng đáng được liệt vào hàng tướng Ác. Nhưng không phải chỉ là ác với đối phương mà ác với chính quân của mình, coi quân của mình như cỏ rác.

    Với một lý lịch bất minh là con của mật thám Pháp thì ông Giáp đáng lẽ ra không thể theo cộng sản. Nhưng vì ông ta có cái ác, cái lỏi mà Hồ Chí Minh thích sử dụng ông ta. Bởi vậy người ta sẽ dễ dàng giải thích vì sao ông im lặng cho Hồ Chí Minh giết hại hàng triệu đồng bào trong CCRĐ. Tại sao ông Giáp im lặng cho Phạm Văn Đồng và Hồ Chí Minh ký công hàm bán Hoàng Sa - Trường Sa năm 1958. Những người ca ngợi ông sẽ lấy lý do gì bào chữa cho việc ông “có tâm” mà lại để những việc bán nước, giết người xảy ra ngay trước mũi khi ông nắm quân đội trong tay. Có lẽ ông Giáp cũng chỉ là một người cộng sản như bao cộng sản khác đó là: bán nước, độc tài, tàn ác và bất tài mà thôi!

    05/09/2013
    Đặng Chí Hùng

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. "Bởi vậy người ta sẽ dễ dàng giải thích, vì sao ông im lặng cho Hồ Chí Minh giết hại hàng triệu đồng bào trong CCRĐ. Tại sao ông Giáp im lặng cho Phạm Văn Đồng và Hồ Chí Minh ký công hàm bán Hoàng Sa - Trường Sa năm 1958. Những người ca ngợi ông sẽ lấy lý do gì bào chữa cho việc ông “có tâm” mà lại để những việc bán nước, giết người xảy ra ngay trước mũi khi ông nắm quân đội trong tay. Có lẽ ông Giáp cũng chỉ là một người cộng sản như bao cộng sản khác đó là: bán nước, độc tài, tàn ác và bất tài mà thôi!" Đây là một nhận định mà tôi hoàn toàn nhất trí với ông Đặng Chí Hùng, mặc dù ngay trước khi tôi chưa đọc những luận cứ của ông, tôi vẫn có suy nghĩ Võ Nguyên Giáp là một tướng tài. Xin cảm ơn ông Đặng Chí Hùng.

      Riêng tôi: Việc "ngày xưa đại tướng cầm quân. Ngày nay đại tướng cầm quần chị em" ông Đặng Chí hùng cho rằng "ông Giáp có quyền né tránh và thủ thân cho mình", nhưng tôi thì cho rằng đã thêm một bằng chứng, chứng tỏ đại tướng Võ Nguyên Giáp quá hèn quá bất tài, bởi một tướng tài thì phải nắm được quân và không thể chịu nhục như thế dù phải chết cũng cam lòng. Cũng do đó có thể coi tướng Giáp đã chết từ năm 1983 (xin nói rõ là chết nhục). Vài lời trao đổi với ông Đặng Chí Hùng, kính chúc ông khoẻ.

      @SinhVien

      Xóa
    2. Trả lời bạn @SinhVien

      Thái độ cũng quan trọng ngang bằng khả năng.Chế độ cs độc tài có thành hình được...là nhờ vào chính cái tự do lương tâm của những con người như ông Giáp đây. Còn những người mà xiềng xích cs đã không có thể chinh phục họ được,đã bị cs thủ tiêu hoặc đày ải đến khốn cùng.

      Đối với những tướng cs,không có thứ gọi là tài năng,dũng khí. Họ không vì ái quốc, mà chỉ vì sự u mê chạy theo quyền lực; là những kẻ vụ lợi,bè phái. Là những kẻ côn đồ,ẩn trú dưới hai chữ.. Ái Quốc.

      @HoaiHuong

      Xóa
    3. Hôm nay ngày sinh nhật, con cháu tụ tề đông đủ chúc thọ 80 cho tôi, đồng thời mừng thằng đích tôn vừa tốt nghiệp đại học. Chính nó khoe với tôi: Quí DLB "có bài nói về Tướng của ông và bố cháu". Tôi nhờ nó comment lên quí báo ý những gì tôi biết, cũng là 1 dịp kể cho nó nghe những gì về đất nước vào thời điểm này cần phải kể: Tôi là bộ đội ĐBP và cũng vào B năm 1965, con trai tôi năm 1979 phục vụ ở chiến trường tây Nam bộ, đều là lính cuả ông Giáp cả.
      Tướng Giáp nổi tiếng là nhờ có nhiều sở đoản hơn sở trường: Ngay những ngày đầu thành lập chính phủ VNDCCH, cuối năm 1946, HCMinh và PVĐồng đi Pháp, giao Việt minh cho tướng Giáp, tranh thủ HTKháng là người trung dung không đảng phái, tướng Giáp đã thanh trừng những người không CS trong VIệt Minh. Thế mà sau đó lại bỏ Tự vệ thành Hà Nội chiến đấu vùi một mình với Pháp để Tướng Giáp và CS rút lên Việt bắc (Trong vụ này bố vợ của tôi sau này [tức là ông cố ngoại của thằng đang còm] hy sinh).
      Ở ĐBP nói chung rừng núi hiểm trở, hỏa lực Pháp cũng không cao, nên sự hy sinh mất mát của bộ đội tuy nhiều, nhưng cũng không bằng chiến trường B. Phải nói là tướng Giáp không trực tiếp vào chiến Trường sơn, các tướng thừa hành khác thì lại thích báo cáo hay: cứ tin báo về chiếm được chỗ nay chỗ nọ , người ta quan tâm hơn số lượng bộ đội chết, thế đấy! Nên "chịu đấm ăn xôi", từ lúc chiến trường bắt đầu ác liệt từ sau năm 1968 và cao điểm là hè 1972, các chỉ huy trong chiến trường "thí quân" là chiến thuật chủ yếu. Chết nhiều lắm, chết nà mất xác quá nhiều. Ôi đồng đội của tôi!

      @CựuBinhGià-HàNội

      Xóa
    4. Trả lời @CựuBinhGià-HàNội

      Sao bộ đội miền Bắc nhiều tướng "đồ tể" thế? Nhưng chắc không ai qua được Giáp. Vậy đề nghị phong cho ông ta danh hiệu : " ĐẠI ĐỒ TỂ "

      @LongNamBo

      Xóa
    5. Trả lời @CựuBinhGià-HàNội

      Tôi đề nghị từ nay nên gọi là Đại Đồ Tể Võ Nguyên Giáp cho nó oai.

      @Congdantudo

      Xóa
    6. Tiên sư Cộng sản Việt nam!
      Cuối đời bán cả giang san nước nhà.
      Dịch heo nối tiếp dịch gà.
      Bao giờ dịch Đảng cho bà con vui?
      Bao giờ Hồ cạn, Đồng khô.
      Chinh rơi, GIÁP rách cơ đồ mới yên.

      @CaDao

      Xóa
    7. HỠI ANH BỘ ĐỘI
      Hỡi anh bộ đội thương binh. Chắc anh đã thấy dân mình ra sao?
      Công lao sương máu năm nào. Bây giờ lãnh đạo mang trao cho Tàu.
      Nam quan, Bản dốc còn đâu? Hoàng sa biển rộng lần hồi cống dâng.
      Đời anh sống chết bao lần. Vì lòng yêu Nước dự phần góp tay.
      Trắng đen rõ thật ban ngày. Cộng sản chính thật một bầy độc tôn.
      Ngoảnh mặt bất chấp lòng dân. Phản bội sương máu giết mầm tự do.
      Việt Nam nguyên dẫy sơn hà. Mồ hôi công sức ông cha đắp bồi.
      Truyền thống dân tộc còn đâu. Lê lin, Các Mác leo đầu nước ta.
      Trong tay săn khẩu AK . Năm xưa anh đã xông pha bao lần.
      Xin anh đừng chớ lừng khừng. Ra tay cứu độ thanh trừng kẻ gian.
      Trọng, Sang, Dũng lũ bạo tàn. Chúng đem bán nước cho đàn em Mao.
      Toàn dân chung một cao trào. Trong ngoài hiệp lực diệt Tàu cứu dân.

      @VietHung

      Xóa
    8. NỖI ĐAU ĐẠI TƯỚNG QUÂN

      Ngày xưa Đại tướng cầm quân.
      Ngày nay Đại tướng cầm quần chị em.
      Khi xưa trấn thủ lưu đồn.
      Bây giờ Đại tướng trấn ..ồn chị em.

      @CaDaoDanGian

      Xóa
  33. Nếu không có những người như Bác Hồ và đại tướng Võ Nguyên Giáp thì Việt Nam đã chẳng được hưởng tự do, độc lập như hiện tại. Hình ảnh của 2 con người vĩ đại này mãi nằm trong trái tim của con người Việt Nam. Còn những kẻ muốn nói xấu, bôi nhọ, phủ nhận công lao của các cụ thì đúng là kẻ không có lòng tự tôn dân tộc, chỉ vì ăn tiền từ ngoại bang dơ bẩn mà bán cả nhân tính, lòng tự trọng của bản thân. Cuối cùng thì cũng bị lên án, khinh bỉ thôi.

    Trả lờiXóa
  34. Đại tướng Võ Nguyên Giáp không chỉ là người thầy dạy sử mà chính Người cũng là một người đóng góp công lớn trong việc viết nên trang sử vàng của Việt Nam. Công lao của người là không thể phủ nhận, lịch sử đã chứng minh điều đó, dù bọn phản động có ghét đại tướng như thế nào thì cũng do chúng đã thất bại quá đau đớn trước quân đội Việt Nam dưới sự lãnh đạo của đại tướng

    Trả lờiXóa
  35. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một vị tướng tài và có nhân cách cao cả. Người đã chỉ huy quân đội nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc chống lại 2 kẻ đế quốc hùng mạnh là Pháp và Mỹ. Chính vì thế, các thế lực thù địch rất hận và căm ghét ông, chính vì thế chúng thường xuyên có những bài viết xuyên tạc, nói xấu đại tướng. Đây là một việc không thể chấp nhận được

    Trả lờiXóa
  36. Thật giả hỗn chiến

    Bs Nguyễn Đan Quế - "...Chúng ta cũng cảnh cáo trước: những tổ chức xã hội dân sự quốc doanh trong Mặt trận Tổ quốc, hoặc bất cứ hình thức nào dù chìm hay ‘lơ lửng nổi’ nhằm giúp Hà nội thực hiện dân chủ bịp bợm, đều là phản động và sẽ lụn bại vì ‘hồn Trương Ba da hàng thịt’..."

    Năm 1986 Việt Nam buộc phải mở cửa ra với thế giới bên ngoài. Đầu tư tăng nhanh và thương mại nở rộ. Hối mại quyền thế và tham nhũng ngay lập tức đồng hành, có mặt khắp nơi từ trên xuống dưới. Nội bộ đảng cộng sản chia rẽ vì ăn chia không đều. Hố giàu - nghèo khoét sâu thêm trong xã hội: cán bộ có chức có quyền cùng phe nhóm lợi ích giàu ‘khủng’, còn dân nghèo làm việc đầu tắt mặt tối suốt ngày không đủ nuôi con ăn học.

    Tuy nhiên có mặt tích cực của mở cửa. Đó là sự hình thành giai tầng trung lưu trẻ, năng động, ham mê internet đang phát triển mạnh tại Việt Nam. Chính giai tầng trung lưu này đi đầu tố cáo bất công xã hội, lột mặt tuyên truyền bịa đặt một chiều của cộng sản, chỉ trích những sai lầm trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội, giáo dục, y tế... bằng thông tin đa chiều và nêu cao giá trị của tiến bộ, tự do, dân chủ trên thế giới.

    Chỉ vì không chịu cải tổ hệ thống chính trị lỗi thời, kinh tế Việt Nam lâm vào suy thoái từ năm 2010 với lạm phát tăng, thất nghiệp cao, giá sinh hoạt ngày càng đắt đỏ. Thất bại về kinh tế, cộng nguy cơ khó đòi / mất Hoàng Sa - Trường Sa làm người dân bực tức kẻ cầm quyền từ trung ương đến địa phương.

    Sợ bất ổn xã hội, Nguyễn Tấn Dũng tăng cường công an trị và ký nghị định số 72/2013/NĐ-CP có hiệu lực từ 1-9-2013, với lý do nói là để bảo vệ tác quyền, nhưng chủ ý nhằm kiểm soát người viết blog trên mạng, chỉ cho phép chia xẻ thông tin cá nhân, cấm đăng lại bài trên báo điện tử khác (dù là của nhà nước) mà không dẫn nguồn hay xin phép tác giả. Nhiều blogger đã bị bắt, như Cù Huy Hà Vũ, Lê Quốc Quân, Phạm Viết Đào, Trương Duy Nhất, Đinh Nhật Uy, Điếu cầy, Tạ Phong Tần, các nhạc sĩ Việt Khang, Trần Vũ An Bình... Nhưng bất ổn xã hội vẫn tăng. Đã có đổ máu và thương vong trong tranh chấp đất đai ở Hải Phòng, Hưng Yên, Thái Bình. Ở Nghệ An giáo dân và công an đã ‘giao tranh bằng gạch đá’, Giám mục Nguyễn Thái Hợp kết tội chính quyền địa phương đàn áp tôn giáo.

    Đưa tầm mắt ra ngoài Việt Nam, chúng ta thấy nổi lên nhiệm vụ phát triển vùng của Hiệp Hội Các Quốc Gia Đông Nam Á (Asean), và vai trò chiến lược hàng đầu của Châu Á - Thái Bình Dương. Tương tác giữa các siêu cường đang hướng về “Cộng tác trong Cạnh tranh” / “Cạnh tranh trong Hợp tác”. Và các siêu cường đều đã lên tiếng ủng hộ Asean đi vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển.

    Liệu Việt Nam có thể đi ngược lại nhận thức chung và quyết tâm chính trị chung của cả khối Asean? Ít ra trong lúc này chúng ta có thể nói một Việt Nam chuyển từ độc tài sang dân chủ, là viễn cảnh mà Asean mong đợi từ lâu. Mỹ cũng trông chờ điều này xảy ra để hội nhập Việt Nam vào tổ chức Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) đang hình thành.

    Dân chủ hóa Việt Nam rõ ràng không thể tránh khỏi và mang tính cấp bách. Không có con đường nào khác, vì phát triển và dân chủ phải đi đôi với nhau.

    NHƯNG hiện đang xảy ra hai hướng giải quyết đối nghịch nhau:

    - Một mặt, Bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam đang ra sức giữ độc quyền lãnh đạo bằng cách: đàn áp những tiếng nói chân chính đòi dân chủ và thi hành dân chủ giả hiệu từ trên xuống. Dễ có thể thấy qua những đòn ngón bá đạo như kiểu lấy phiếu “tín nhiệm cao, tín nhiệm vừa, tín nhiệm thấp” các cấp lãnh đạo, hay đến nhà ép dân phải đồng ý với những sửa đổi hiến pháp 1992 hoặc đang tính cải biến Mặt trận Tổ quốc cho có dáng dấp là tiếng nói phản biện của những tổ chức trong xã hội…

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. - Mặt khác, khi tham gia vận động nhân quyền và dân chủ, những người tranh đấu luôn sát cánh cùng quần chúng để thiết lập Dân Chủ thực sự từ dưới lên. Nhiều giới trong xã hội đang dùng internet lên tiếng đòi giới cầm quyền phải tôn trọng những nhân quyền căn bản của người dân. Thí dụ: trí thức, thanh niên, sinh viên, giới trẻ, giới làm báo đòi phải có tự do tư tưởng, tự do thông tin, tự do phát biểu ý kiến; tín đồ các tôn giáo đòi phải bỏ ‘giáo hội quốc doanh’ và tôn trọng quyền tự do hành đạo; người lao động đòi quyền sở hữu đất đai, đòi công đoàn độc lập, đòi quyền được đình công... Đây chính là những mầm mống xã hội dân sự đang hình thành và lớn mạnh trong đấu tranh.

      Tập đoàn Nguyễn Tấn Dũng âm mưu sử dụng nghị định 72 và điều luật 258 hòng tiêu diệt sự ra đời của các xã hội dân sự. Nhưng đây là tiếng nói của phong trào quần chúng gồm đông đảo người dân bị bóc lột, bị áp bức thuộc đủ mọi tầng lớp, đủ mọi ngành nghề trong xã hội. Đòi hỏi có chính nghĩa, hàng ngũ tham gia ngày càng đông, lại thêm có kỹ thuật mới hỗ trợ chống kiểm duyệt internet, cho nên phong trào bằng mọi giá phải đánh bại 72 và 258.

      Trong cuộc hỗn chiến giành tự do internet, tất cả các xã hội dân sự của chúng ta đều xuất phát từ hạ tầng cơ sở, cùng quyết tâm nói lên nguyện vọng và bảo vệ quyền lợi của cộng đồng mình. Chính những xã hội dân sự hừng hực khí thế đấu tranh dân chủ cấu thành sức mạnh quần chúng. Và sức mạnh quần chúng có sứ mạng là áp đảo tập đoàn Bộ chính trị Hà nội, buộc chúng phải chấp nhận lộ trình dân chủ hóa từ dưới lên.

      Chúng ta cũng cảnh cáo trước: những tổ chức xã hội dân sự quốc doanh trong Mặt trận Tổ quốc, hoặc bất cứ hình thức nào dù chìm hay ‘lơ lửng nổi’ nhằm giúp Hà nội thực hiện dân chủ bịp bợm, đều là phản động và sẽ lụn bại vì ‘hồn Trương Ba da hàng thịt’ (*).

      10-2013
      Bs Nguyễn Đan Quế

      Xóa
  37. PHẢN HỒI: "Thật giả hỗn chiến"

    Thái Độ:
    1. MỸ: muốn đánh thằng nào, là đánh thằng đó.
    2. ANH: Mỹ đánh thằng nào, tao đánh thằng đó.
    3. PHÁP: thằng nào đánh tao, tao đánh thằng đó.
    4. NGA: thằng nào chửi tao, tao đánh thằng đó.
    5. DO THÁI: trong bụng thằng nào muốn đánh tao, tao đánh thằng đó.
    6. NHẬT: thằng nào đánh tao, tao xin MỸ đánh thằng đó.
    7. TRUNG CỘNG: thằng nào đánh tao, tao chửi thằng đó.
    8. ĐÀI LOAN: thằng nào đánh tao, tao bảo báo chí chửi thằng đó.
    9. NAM HÀN: thằng nào đánh tao, tao sẽ diễn tập với MỸ.
    10. BẮC HÀN: thằng nào chọc tao bực, tao đánh thằng Nam Hàn
    11. VIỆT CỘNG: thằng nào giết dân của tao, chiếm đất, chiếm biển của tao, tao gọi thằng đó là "đồng chí".

    @ThaiDo

    Trả lờiXóa
  38. Dân chủ là nhu cầu bức thiết để xây dựng đất nước, thế mà csvn lại cho đó là "thế lực thù địch" tìm mọi cách đánh dẹp các nhà dân chủ; bởi đảng luôn chủ trương mị dân, lừa thiên hạ thì dân chủ là 'cừa tử' của chế độ! Chúng giành 'độc quyền truyền thông' để dễ ăn gian nói dối, dùng số côn an mật vụ khổng lồ để theo dõi trấn áp dân, buộc phải theo chúng. Nhưng ngày nay, Internet bùng nổ, xã hội dân sự manh nha ló dạng thì cuộc chiến giữa chính nghĩa và hung tàn bạo ngược đã nghiêng về khối đa số 'bị trị'! Phong trào phản kháng lên cao chưa từng thấy từ mọi thành phần xã hội, trong mọi lãnh vực, cả già lẫn trẻ, ngay chính trong nội bộ đảng.
    Quản lý tồi tệ, cán bộ bất tài mà tham nhũng, nạn quan liêu bè phái và bảo thủ là những 'tử huyệt' làm csvn hết đường thoát, ngoại trừ việc chấp nhận dân chủ đa nguyên đa đảng:
    những ai chống lại nhân dân
    rồi ra phải chịu 'cắt gân nấu dầu'!
    Ba đình mấy kẻ cầm đầu,
    tội tình đầy dẫy, nấu dầu cắt gân!

    @LeThienY

    Trả lờiXóa
  39. Cháu cũng là Một người con Lệ Thủy nhưng cháu sống và làm việc tại SG. Nghe tin Bác ra đi cháu vô cùng hụt hẫng, buồn quá Bác ơi! chúng cháu sẽ không bao giờ quên công lao trời biển của Người. Đất nước Việt Nam, bạn bè trên toàn thế giới luôn nhớ tới Bác. Bác hãy yên nghĩ Bác nhé? Cháu thương Bác Vô cùng Bác ơi!!Vô cùng thương tiếc vị Lão tướng Khai Quốc Công Thần Của Việt Nam

    Trả lờiXóa
  40. Đại tướng của chúng ta đã ra đi ... Nhân dân Việt Nam mãi nghi nhớ, học tập, noi theo tấm gương người, người anh hùng của dân tộc !
    Tướng tài thao lược tầm Nguyên soái.
    Nhân Văn đức độ bậc hiền nhân!

    Trả lờiXóa
  41. Một con người đã mãi mãi ra đi, và để lại đằng sau biết bao nhiêu kỷ niệm, sự tự hào và lòng biết ơn. Và lớn hơn tất cả là độc lập tự do cho mỗi chúng ta. Cảm ơn ông,.............và chỉ tạm biệt thôi người vô cùng quan trọng. Ông mãi là dân tộc việt nam.! Và hy vọng "Đời Đời" sau sẽ xây dựng Việt Nam mạnh mẽ hơn nữa, tự hào hơn nữa.

    Trả lờiXóa
  42. Mãi mãi ... Đất nước Việt Nam luôn ghi khắc những chiến công oanh liệt, vẽ vang của Người, những người con Đất Việt luôn yêu kính và nhớ ơn Người, chúng con luôn tưởng nhớ Người - học trò xuất sắc của Bác Hồ vĩ đại - dẫu có lúc con vô cùng đau xót khi nước bạn mời Người - duy nhất của VN - đến dự ... nhưng Người không nhận được ...

    Trả lờiXóa
  43. Người là nền móng cho những tu dưỡng, rèn luyện, sống tốt và cống hiến ... noi gương Người. Cuộc đời luôn tồn tại rác rưởi xung quanh những hoa hồng ... Người là một trong những HOA HỒNG ĐẸP NHẤT, trường tồn vĩnh viễn trong trái tim dân tộc Việt Nam dọc theo chiều dài thế kỹ ...

    Trả lờiXóa
  44. Vĩnh biệt ông- Người anh hùng của dân tộc Việt Nam! Một con người đã đi vào huyền thoại, làm nên lịch sử chiến công hiển hách, vẻ vang tổ quốc VN. Niềm đau này không chỉ riêng của nhân dân Việt Nam, Tất cả những dân tộc yêu chuộng hòa bình mãi khắc ghi hình ảnh Đại Tướng. Xin kính cẩn tiễn đưa Người.

    Trả lờiXóa
  45. Bác à Bác đã ra di
    Cho muôn giọt lệ cho ngàn tiếc thương
    Đắng cay tủi nhục đã từng
    Bác đi mong bác yên bình thiên thu

    Trả lờiXóa
  46. Mấy thằng rận 'công cống', "triên triết" sủa khiếp nhẩy. Tội nghiệp. Chó cứ sủa, người cứ đi.

    Trả lờiXóa
  47. xin được kính cẩn tiển đưa bác GIÁP . Vị anh hùng của đất nước VIỆT NAM , chúng cháu luôn nhớ đến bác !Người mãi luôn là gương sáng cho chúng con noi theo.
    Tướng Giáp tài ba nhất toàn cầu
    Hành tinh có 1 không có 2

    Trả lờiXóa
  48. Kính cẩn nghiêng mình trước linh hồn Bác- một con người vĩ đại của Dân Tộc Việt Nam. Bác đã ra đi nhưng Bác luôn sống mãi trong lòng của mỗi người dân Việt Nam. Mỗi dòng sông, mỗi ngọn núi, mỗi cánh đồng trên dải đất hình chữ S thân thương sẽ cùng nhau thổi khúc nhạc hào hùng nhất.

    Trả lờiXóa
  49. Đời đời nhớ ơn đại tướng Võ Nguyễn Giáp, tiếc thương nhất để hòa nhịp đau thương của dân tộc Việt Nam khi mất đi một con người Vĩ Đại như Bác. Đất Mẹ sẽ giang rộng đôi tay để đón Bác. Bác đi bình yên, Bác nhé!Vị anh hùng của đất nước VIỆT NAM , chúng cháu luôn nhớ đến bác !

    Trả lờiXóa
  50. Vĩnh biệt Bác, người mà chúng con luôn yêu quý kính trọng! Xin kính cẩn nghiêng mình trước linh cữu người! Xin cùng chia buồn với toàn thể dân tộc Việt nam mình với mất mát to lớn này!Xin chia buồn cùng toàn thể nhân dân Việt Nam trước nỗi đau mất đi vị Đại Tướng tài ba!

    Trả lờiXóa
  51. Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Thiên tài quân sự lớn nhất thế kỷ 20 đã ra đi trong sự tiếc thương vô hạn của dân tộc. Cháu đã biết tới tên ông khi cháu mới bắt đầu học chữ, cháu đã biết tới tâm đức và tài năng vô hạn của ông khi cháu tập cảm nhận. Cháu biết tất cả về ông khi cháu lật từng trang sử.

    Trả lờiXóa
  52. Bây giờ đây cháu chỉ biết ngậm ngùi trong chua xót khi phải chấp nhận một sự thật – vẫn biết rằng “trời xanh là mãi mãi” nhưng vẫn không can tâm chấp nhận sự thật này. Vĩnh biệt Ông, cầu mong linh hồn Ông yên nghỉ" Xin mãi mãi nhớ về Ông như một tượng đài vĩ đại của dân tộc Việt

    Trả lờiXóa
  53. Đại tướng anh hùng dễ mấy ai
    Đức độ, anh, uy, trí, dũng, tài.
    Thắng hai đế quốc, bách niên thọ.
    Hoàn cầu có một, không có hai

    Trả lờiXóa
  54. Đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP là người hùng cách mạng vĩ đại trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho đất nước, đươc đồng bào dân tộc trong mọi miền đất nước yêu mến.Nay người đã mãi mãi ra đi nhưng để lại cho chúng con cuộc sống yên bình như ngày hôm nay .

    Trả lờiXóa
  55. Vĩnh biệt người anh cả của Quân đội nhân dân Việt nam, vĩnh biệt vị tướng tài ba của những người lính cụ Hồ. Đại tướng sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam. Vĩnh biệt đại tướng. Thiên Tài quân sự của đất nước. Thế hệ sau mãi mãi không khi nào quên Người..

    Trả lờiXóa
  56. Kính cẩn nghiêng mình trước anh linh của đại tướng VÕ NGUYÊN GIÁP người anh cả của lực lượng vũ trang.người học trò suất sắc của chủ tịch HỒ CHÍ MINH.Con người và sự nghiệp của đại tướng mãi mãi là tấm gương và bài học cho đất nước,con người VIỆT NAM.cầu chúc cho hương linh đại tướng siêu thoát nơi cõi vĩnh hằng.XIN VĨNH BIỆT NGƯỜI .

    Trả lờiXóa
  57. Vĩnh biệt Bác Giáp, Chúc Bác yên giấc ngàn thu và siêu thoát. Tất cả người con việt nam sẽ luôn cầu nguyện để Bác được siêu thoát.vĩnh biệt người anh cả của lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam, một vị tướng tài của thế giới. Xin cúi mình tiễn đưa đại tướng về nơi an nghỉ cuối cùng.

    Trả lờiXóa
  58. Tối hôm qua nghe tin Bác mất, con như có ai bóp nghẹt trái tim , vẫn biết người đến thế giới người hiền, nhưng lòng con vẫn sao đau quá. Nhớ hôm nào qua nơi Bác dưỡng bệnh, dù ko đc vào lòng con vẫn nao nao. Vĩnh biệt Bác vị anh hùng dân tộc, vị cha già kính yêu của chúng con! Mong nơi ấy người yên nghỉ, chúng con mãi mãi kính yêu người.

    Trả lờiXóa
  59. Võ Nguyên Giáp, Người đã trở thành một huyền thoại cao cả trong lòng nhân dân Việt Nam và trên thế giới. Có lẽ không thể đong đếm hết những chiến công của người trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như không thể so sánh người với một nhân vật nào khác trong lịch sử. Vĩnh biệt Người!

    Trả lờiXóa
  60. Vĩnh biệt Vị tướng kính yêu của dân tộc , toàn thể đồng bào sẽ luôn nhớ và biết ơn những công lao vô cùng lớn lao của Đại Tướng. Tên tuổi và sự nghiệp của người sẽ sống mãi với thời gian. Cháu đang khóc Bác ơi, vĩnh biệt Bác !Vĩnh biệt Đại tướng kính yêu.

    Trả lờiXóa
  61. Vĩnh biệt Người, bác là nhà lãnh đạo tài ba. Cả dân tộc Việt Nam và thế giới sẽ mãi mãi nhớ tới vị Anh Cả của Quân đội VN, chúng con luôn dành sự tôn trọng,quý mến và tiếc thương nhất về Người. Kính mong Bác yên nghỉ ngàn thu. Xin kính Vĩnh biệt Người.

    Trả lờiXóa
  62. Đây là sự mất mát lớn của cả dân tộc và nhân loại trước sự ra đi của một con người bền bỉ đấu tranh cho hòa bình,độc lập dân tộc.Chúng ta sẽ mãi nhớ ơn Người.Ông đã ra đi, nhưng hình ảnh và công lao đóng góp của ông sống mãi trong lòng người dân Việt Nam! Các thế hệ người VN mang ơn ông.

    Trả lờiXóa
  63. Nghe tin Đại tướng mất, trong lòng tự dưng buồn buồn, nước mắt rưng rưng. VN mất đi 1 tượng đài rồi. Đau lòng quá!!! Chúng con xin vĩnh biệt Người. Dù không tồn tại trên cõi đời này nữa, nhưng Người vẫn sống mãi trong lòng chúng con! Vĩnh biệt ông kinh yêu.! Cầu mong ông vãnh sanh cực lạc.!!

    Trả lờiXóa
  64. Vĩnh biệt Bác kính yêu !Cả dân tộc Việt Nam mãi mãi ghi nhớ công ơn của Bác. N­g­ười đã ra đi thật rồi! Chúng con xin Vĩnh biệt Người. Công ơn và Đức độ của người sẽ còn sống mãi với thế hệ trẻ và dân tộc Việt nam.Đau xót vô cùng khi nghe tin Đại tướng qua đời.

    Trả lờiXóa
  65. Lịch sử sẽ khắc ghi mãi công lao của đại tướng với Tổ quốc.Người đã ra đi ,nhưng chúng con mãi nhớ về người với những chiến công lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu.Xin kính cẩn nghiêng mình .ông ra đi để lại sự tiếc thương cho dân tộc VN cho nhân dân VN ,cho mọi tầng lớp yêu chuộng hòa bình trên thế giới .

    Trả lờiXóa
  66. Tối qua tranh thủ lên đọc tin tức bàng hoàng trước tin Đại Tướng Võ Nguyên Giáp qua đời trong lòng thật là buồn rười rượi. Trong tâm vẫn biết là Đại Tướng đã tuổi cao sức yếu cống hiến cả đời mình cho cách mạng nhưng vẫn thấy buồn. Đại tướng đã hoàn thành nghĩa vụ cho dân tộc cháu chúc Đại Tướng yên giác ngàn thu.

    Trả lờiXóa
  67. Bác Giáp sẽ sống mãi trong lòng người dân Việt, các thế hệ dân Việt Nam mãi nhớ tới Bác như là biểu tượng của trí tuệ, sự hi sinh, lòng qua cảm. Vĩnh biệt bác Võ Nguyên Giáp. Bác mãi mãi sống trong tim của người Việt Nam! Vĩnh biệt vị tướng tài ba của dân tộc!

    Trả lờiXóa
  68. Vĩnh biệt huyền thoại của người dân Việt Nam, vị tướng tài kiệt xuất, người sẽ sống mãi trong lòng người dân Việt nam.Nghiêng mình, giới trẻ chúng con xin tiễn Người ra đi. Người ra đi là sự mất mát lớn, Người mãi là người Anh Cả cho lớp trẻ chúng con noi theo! Vĩnh Biệt Người!

    Trả lờiXóa
  69. "Tạm biệt" Đại Tướng, cuối cùng thì Người cũng đã đến thăm Hồ Chủ Tịch rồi. Con xin gửi lời biết ơn chân thành, sâu sắc nhất đến Người và Hồ Chủ Tịch vì đã dạy cho chúng con biết quý trọng, bảo vệ và yêu thương mảnh đất Việt Nam thân thương này. Tuy Người đã ra đi nhưng linh hồn Người vẫn sống mãi trong tâm hồn dân tộc Việt Nam chúng con cùng với Hồ Chủ Tịch kính yêu

    Trả lờiXóa
  70. Thật bàng hoàng và xúc động khi nghe tin Đại tướng Võ Nguyên Giáp-Một vị tướng lỗi lạc của Việt Nam và thế giới,người học trò xuất sắc cuối cùng của Bác Hồ,đã vĩnh biệt chúng ta!Xin kính cẩn nghiêng mình vĩnh biệt vĩnh biệt Người!!!Vĩnh biệt Người, mong Người yên nghỉ sau một cuộc đời gian lao mà đầy ý nghĩa !

    Trả lờiXóa
  71. ôi đại tướng văn võ song toàn đức hạnh tuyệt vời, con xin nghiêng mình trước vị anh hùng vĩ đại của dân tộc! Vô cùng thương tiếc một vị tướng tài ba, một tấm guơng sáng ngời, một nhân cách lớn..Vĩnh biệt! Xin Bác hãy yên nghỉ ngàn thu. Cả dân tộc Việt Nam luôn ghi nhớ Bác như một huyền thoại với tất cả lòng kính trọng.

    Trả lờiXóa
  72. Đêm qua được tin dữ ngay cả khi truyền thông chưa đưa tin, 1 cảm giác xót xa dâng tràn khi "Người anh hùng dân tộc" 1 trong 10 vị tướng giỏi nhất của mọi thời đại đã vĩnh viễn ra đi. Nước mắt mình đã rơi như chính khi mất đi người cha yêu quý của mình. Bác sẽ sống mãi trong lòng dân tộc Việt Nam, sử sách sẽ lưu mãi tiếng thơm của bác đến muôn đời sau. Vĩnh biệt ĐẠI TƯỚNG.

    Trả lờiXóa
  73. Vĩnh biệt ông 1 tượng đài về quân sự, 1 vị anh hùng của dân tộc Việt Nam. Tên tuổi ông se mãi trường tồn với lịch sử. Vĩnh biệt ông.Ông mãi mãi là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ sinh ra trong thời bình của chúng cháu được học tập theo. Vĩnh biệt ông, vĩnh biệt một ngưòi hiền tài của đất nước.

    Trả lờiXóa
  74. Đời đời ghi nhớ công ơn của Người ,nhân dân Việt nam cũng như nhân dân thế giới luôn khắc sâu trong lòng tên tuổi của Người ,không biết nói gì hơn với một con người vì dân vì nước vì nền hòa bình của nhân loại ....Vĩnh biệt Người ,Đại tướng Võ Nguyên Giáp sống mãi trong lòng nhân dân Việt nam và bạn bè quốc tế

    Trả lờiXóa
  75. Xin kính cẩn nghiêng mình đưa tiễn Bác. Người thầy, người anh hùng dân tộc, dù vẫn biết rồi sẽ có ngày này mà sao nghẹn lòng quá Bác ơi... Bác về thế giới của người hiền là một tổn thất tinh thần to lớn cho các thế hệ con cháu chúng con. Công lao và đạo đức của Người không một giấy bút nào có thể tả hết..

    Trả lờiXóa
  76. Tôi thấy đau nhói trong tim khi biết người anh cả của quân đội ND Việt Nam, một lãnh tụ của CM VN đã ra đi. xin kính cẩn nghiêng mình trươc vong linh vị anh hùng dân tộc này. Chỉ bằng tất cả sự thành kính, mến yêu cháu xin nghiêng mình tiễn Bác-vị tổng công trình sư, người anh cả anh hùng của một quân đội và dân tộc anh hùng... Kính biệt Người!

    Trả lờiXóa
  77. Xin được vĩnh biệt ông, ông hoàn toàn xứng đáng được cả dân tộc Việt Nam để tang, tên tuổi của ông đã làm nên lịch sử, những công dân chân chính của dân tộc VN sẽ luôn tôn thờ và kính trọng ông. Hơi thở Người không còn nhưng tình yêu, sự kính trọng và lòng biết ơn Người sẽ mãi mãi bất diệt đối với những người con Đất Việt. Xin thắp một nén hương để tiễn Người về với đất mẹ.

    Trả lờiXóa
  78. Vô cùng thương tiếc người anh Hùng siêu việt, người anh hùng của dân tộc Việt Nam và cả thế giới. Bác hãy yên nghỉ , với tấm gương sáng ngời của Bác sẽ là bài học lớn lao cho tuổi trẻ hôm nay nôi theo trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước . Trong công cuộc xây dựng đất nước có các mặt trận đấu tranh không giống như thời của Bác nhưng cũng rất cần những người như Bác.

    Trả lờiXóa
  79. không biết các thế hệ 9x, 10x nghĩ gì khi nghe tin Bác qua đời, nhưng con là thế hệ 8x khi nghe tin Bác mất con thật sự buồn và nhớ những bài học con đã được học trong sách giáo khoa, và những tư liệu đã được xem trên internet, đất nước việt Nam đã mất đi 1 vị tướng tài, nhân dân Việt Nam mất đi 1 vị Anh hùng lỗi lạc, những trận chiến đã ghi tên người vào lịch sử đấu tranh nhân loại, xin chia buồn cùng toàn thể đại gia đình Bác.

    Trả lờiXóa
  80. Qua cuộc đời, sự nghiệp của người chúng ta đã thấy được cả quãng đời là sự cống hiến cho độc lập dân tộc, cho hạnh phúc của nhân dân. Ban đầu người là một nhà giáo dạy sử là một giáo viên dạy sử, nhà báo, người trở thành một chính trị gia và tướng lĩnh quân sự nổi bật trong lịch sử Việt Nam với các chức vụ Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam. Qua sự chỉ đạo tài tình trong những cuộc đánh, những bài giảng cho các thế hệ ta thấy nên một con người tận tụy với công việc một con người vĩ đại của Đại tướng Võ Nguyên Giáp

    Trả lờiXóa
  81. Một người anh hùng vĩ đại của dân tộc - đại tướng Võ Nguyên Giáp,người đã viết lên những trang sử hào hùng của dân tộc ta.Bác đã đưa dân tộc ta thoát khỏi cảnh khổ cực,thoát khỏi ách đô hộ của thực dân pháp.Giờ đây người mất đi,để lại cho nhân dân chúng ta biết bao thương nhớ.Mong Bác được yên nghỉ,chúng cháu sẽ nhớ ơn bác.

    Trả lờiXóa
  82. NHỮNG SỰ THẬT CẦN PHẢI BIẾT - (Phần 25) - LÊ ĐỨC ANH - KẺ BÁN NƯỚC

    Lê Đức Anh là một tên cai phu cao su có nhiều tội ác với những người dân lành. Đây là kẻ đã từng tiếp tay cho thực dân Pháp đánh đập nhân dân ta. Đó là tội ác không thể dung tha. Đặc biệt, Lê Đức Anh có vai trò rất quan trọng trong việc bán nước của đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó chúng ta cần phải thấy rõ được bộ mặt thật của Lê Đức Anh để nhân dân một ngày gần đây xét xử trước công luận về tội ác này. Đó chính là lẽ phải và chính nghĩa mà chúng ta phải đấu tranh vì một dân tộc Việt Nam trường tồn mãi mãi...

    I. Ác ôn giả danh dân lành:

    1. Lý lịch hiện nay:

    Theo tài liệu được cung cấp trên trang chính của báo điện tử cộng sản thì Lý lịch của Lê Đức Anh như sau:

    “Họ và tên: Lê Đức Anh
    Bí danh: Sáu Nam
    Ngày sinh: 1920
    Quê quán: xã Bàn Môn, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế
    Ngày tham gia cách mạng: 1937
    Ngày vào Đảng: 30-5-1938
    Trình độ học vấn: Văn hóa lớp 7/10, Lý luận chính trị: Trường Đảng Việt Bắc, Học viện Quân sự cao cấp Liên Xô.

    TÓM TẮT QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC

    Từ 1937 đến 1945: Tham gia phong trào dân chủ ở Phú Vang, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 5/1938, Chỉ huy quân đội vũ trang ở Thủ Dầu Một; Trung đội trưởng, Chính trị viên đại đội, Chính trị viên tiểu đoàn, Trung đoàn ủy viên, Tỉnh ủy viên Thủ Dầu Một, Ủy viên Ban Chấp hành cao su Nam Bộ.

    Từ 10/1948 đến 1950: Được cử giữ các chức vụ: Tham mưu trưởng Khu 7, Khu 8; Khu Sài Gòn-Chợ Lớn, Quân khu ủy viên.

    Từ 1/1951 đến 1975: Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Nam Bộ, Cục phó Cục Tác chiến, Cục phó thứ nhất Cục Quân lực, Cục trưởng Cục Quân lực, Phó Tổng tham mưu trưởng, Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Miền, Tư lệnh Quân khu 9, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Miền, Trung tướng (1974).

    Từ 1975 đến 1976: Phó Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, Tư lệnh cánh quân Tây Nam, Tư lệnh Quân khu 9, Bí thư Quân khu ủy, Đại biểu Quốc hội khóa VI.

    Từ 12/1976: Tại Đại hội IV được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tư lệnh kiêm chính ủy Quân khu 7 (1978), Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thượng tướng (1980).

    Từ 6/1981: Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia. Tại Đại hội V (3/1982) của Đảng được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu vào Bộ Chính trị, Đại tướng (1984). Từ tháng 2/1987 tháng 9/1992: Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, tại Đại hội VI (12/1986) và Đại hội VII (6/1991) được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu vào Bộ Chính trị. Đại biểu Quốc hội khóa VIII.

    Từ 1992: Được Quốc hội khóa IX bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tại Đại hội VIII (6/1996), được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu vào Bộ Chính trị, giữ chức Chủ tịch nước.

    Từ 12/1997: Được Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) cử làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.”.

    Theo tài liệu dạy lịch sử tóm tắt của cộng sản Việt Nam thì tiểu sử tóm tắt của Lê Đức Anh như sau: “Lê Đức Anh (sinh 1920), nhà hoạt động quân sự, chính trị Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam; đại tướng. Quê làng Bàn Môn, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Tham gia cách mạng từ 1937. Đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương. Tổ chức và phụ trách các nghiệp đoàn cao su ở Lộc Ninh, các đồn điền Quản Lợi, Xa Cam, Xa Cát, Xa Trạch (1944).

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 2)

    Trả lờiXóa
  83. (Lê Đức Anh-phần 2)

    Gia nhập lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam (8.1945). Thời kì 1945 - 54, đã kinh qua các chức vụ từ cấp trung đội, đại đội, tiểu đoàn, chi đội, trung đoàn, tham mưu trưởng Khu VII, Khu VIII, Khu Sài Gòn - Chợ Lớn, tham mưu phó rồi quyền tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Cục phó Cục Tác chiến, cục trưởng Cục Quân lực Bộ Tổng tham mưu, phó tư lệnh kiêm tham mưu trưởng Quân giải phóng Miền Nam (1964 - 68). Tham gia chiến dịch đánh bại cuộc hành quân Jansơn Xiti (Junction City)) của Mĩ vào căn cứ của Trung ương Cục và Bộ Chỉ huy Miền ở Tây Ninh (1967); đánh vào khu vực Chợ Lớn trong cuộc Tổng tiến công Mậu Thân 1968. Tư lệnh Quân khu IX (1969 - 74). Phó tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh, kiêm tư lệnh cánh quân Tây Nam đánh vào Sài Gòn (1975). Từ 5.1976 đến 1978, tư lệnh Quân khu IX, tư lệnh kiêm chính ủy Quân khu VII. Thành viên của Ban Lãnh đạo chuyên gia và Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia (2. 1979). Tháng 12.1986 - 87, tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm phó bí thư Quân ủy Trung ương. Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992 - 97). Ủy viên Bộ Chính trị (khóa V - VIII); Bí thư Trung ương Đảng khóa VII, ủy viên thường vụ Bộ Chính trị (6.1996 - 12.1997). Đại biểu Quốc hội các khóa VI, VIII, IX. Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (12.1997 - 4.2001). Huân chương Sao vàng, huân chương Quân công hạng nhất, huân chương Chiến thắng hạng nhất và nhiều huân, huy chương khác.” (1)

    Ngoài ra trên wiki tiếng Việt (có sự chấp thuận của cộng sản) thì lý lịch của Lê Đức Anh cũng không có gì khác so với bản lý lịch nêu trên. Nó chỉ có thêm 2 chi tiết chính đó là Lê Đức Anh có bí danh Sáu Nam và nhắc tới con trai là Lê Mạnh Hà, Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Con trai là Lê Sỹ Hiệp, Vụ trưởng, Thư ký Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. (2)

    Qua 3 tài liệu của cộng sản ta có thể thấy lý lịch của Lê Đức Anh khá sạch. Nhưng sự thật có phải như thế không? Chúng ta sẽ được thấy ngay sau đây.

    2. Lý lịch bất minh:
    Lý lịch của Lê Đức Anh đã được chính các cán bộ cộng sản đề nghị xem xét vì có nhiều bất minh. Hãy theo dõi những tài liệu dưới đây để thấy điều này.

    Thứ nhất, về các bản khai lý lịch của Lê Đức Anh đã cho thấy sự mâu thuẫn. Sau đây là lược trích dẫn nội dung thư của 3 tướng cộng sản Phùng Thế Tài, Lê Tự Đồng và Nguyễn Quyết như sau:

    Một tài liệu tháng 11-1976, khi Lê Đức Anh tham gia Đại hội 4 và được đề cử vào Ban chấp hành Trung ương. Lúc đó Lê Đức Anh là Tư lệnh Quân khu 9. Tài liệu này ghi:

    “- Thành phần gia đình: Trung nông; Bản thân: Viên chức
    - Tham gia cách mạng: 1937
    - Vào Đảng: 7 - 1945
    - Chính thức: 8 - 1945

    Bản thân học đến năm 1937, ra dạy tư ở Phú Vang, được kết nạp Đảng vào năm 1938, nhưng chưa sinh hoạt chi bộ. Giữa năm 1939, người anh rể (Hồ Văn Nguyên) bị bắt nên mất liên lạc. Cuối năm 1939 vào Hội An, năm 1940 vào Đà Lạt - Lộc Ninh. Tháng 11 năm 1944 tiếp mối liên lạc hoạt động trong công nhân cao su. Tháng 7-1945 được giao nhiệm vụ chuẩn bị khởi nghĩa. Lấy đó làm ngày kết nạp và lấy ngày 30-8-1945 là ngày làm Tỉnh ủy viên Thủ Dầu Một làm ngày chính thức”.

    Một tài liệu nữa làm tháng 8 - 1986 trước Đại hội 6. Lúc đó Lê Đức Anh là Trưởng ban lãnh đạo Đoàn chuyên gia giúp Campuchia, Ủy viên Bộ Chính trị. Trước đó Lê Đức Anh là Tư lệnh Quân khu 7. Tài liệu này ghi như sau:

    “- Thành phần gia đình: Trung nông
    - Bản thân: Công nhân
    - Ngày và nơi tham gia cách mạng: 1937
    - Ngày nhập ngũ: Tháng 8 - 1945
    - Ngày vào Đảng: 30 - 5 - 1938
    - Ngày chính thức: 05 - 10 - 1938

    1937: Tham gia phong trào Bình Dân ở Phú Vang, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 5 năm 1938. Giữa năm 1939, địch khủng bố mất liên lạc, vào Hội An, Đà Lạt, Thủ Dầu Một làm ăn. 4-1944: Được giao các nghiệp đoàn cao su ở Lộc Ninh, Quảng Lợi. 8-1945: Chỉ huy quân đội vũ trang Thủ Dầu Một, làm trung đội trưởng, chính trị viên đại đội, chính trị tiểu đoàn, chính trị viên chi đội 1, sau là trung đoàn 301, trung đoàn ủy viên, Tỉnh ủy viên Thủ Dầu Một”.

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 3)

    Trả lờiXóa
  84. (Lê Đức Anh-phần 3)

    Rõ ràng 2 bản lý lịch khai ngày vào đảng khác nhau và từ đó có 1 số vấn đề xảy ra khiến các quan chức cộng sản kỳ cựu đặt vấn đề. Phải nói rằng, trong công tác Đảng viên của cộng sản thì vấn đề Đảng tịch bất cứ thời kỳ nào cũng là vấn đề quan trọng hàng đầu. Điều lệ Đảng quy định: “Đảng viên chỉ được tính tuổi Đảng từ khi được kết nạp Đảng chính thức. Có nghĩa rằng chỉ có thể chính thức được công nhận là Đảng viên từ ngày được chi bộ chính thức kết nạp”.

    Trong bản tóm tắt lý lịch lần thứ nhất (tháng 11 - 1976) của Lê Đức Anh có ghi rõ: chưa sinh hoạt chi bộ. năm 1939 thì mất liên lạc. Cho dù được kết nạp dự bị năm 1938 thì cũng không thể kết nạp chính thức, vì chưa sinh hoạt chi bộ. Bản tóm tắt lý lịch này còn ghi là: “Tháng 11 - 1944 tiếp mối liên lạc hoạt động trong công nhân cao su”. Vậy, tiếp nối liên lạc hoạt động gì? Hoạt động Đảng là hoạt động với tư cách đảng viên chính thức hay đảng viên dự bị? Giả định đã tiếp mối liên lạc về Đảng thì sau đó hoặc là được kết nạp dự bị lại, hoặc là sau một thời gian thử thách được chính thức kết nạp vào Đảng. Trong tóm tắt lý lịch tháng 11-1976 không nói điều này. Xin lưu ý là từ tháng 4 - 1944 đến tháng 7 - 1945 là 1 năm 3 tháng. Lúc đó đang là cao trào cách mạng tiền khởi nghĩa, có vùng Đảng đã hoạt động bán công khai. Bản tóm tắt lý lịch tháng 11 - 1976 còn ghi là: “Tháng 7-1945 được giao nhiệm vụ chuẩn bị khởi nghĩa. Lấy đó làm ngày kết nạp và lấy ngày 30-8-1945 là ngày làm Tỉnh ủy viên Thủ Dầu Một làm ngày chính thức”. Việc dùng từ “lấy đó” chính là việc mập mờ kết nạp và chưa kết nạp đảng của Lê Đức Anh.

    Bản tóm tắt lý lịch tháng 11-1976 ghi: Thành phần là “viên chức”. Viên chức là thuộc thành phần tiểu tư sản. Được kết nạp năm 1938, nhưng không có ngày. Điều lệ Đảng cộng sản trước đây quy định: “Thời gian dự bị của những người được kết nạp Đảng thành phần tiểu tư sản là 6 tháng. Còn xuất thân thành phần công nhân thời gian dự bị là 3 tháng”. Cho nên khi khai ngày kết nạp (dự bị) là 30 - 5 - 1938 và ngày chính thức là 05-10-1938 (cách nhau 4 tháng 6 ngày thì tất nhiên kèm theo đó phải khai tụt xuống là xuất thân công nhân). Vì nếu xuất thân viên chức thì thời gian dự bị phải là 6 tháng. Rõ ràng là Lê Đức Anh khai man lý lịch. Bản tóm tắt lý lịch tháng 11 - 1976 ghi: “Tham gia Mặt trận Bình Dân, bị địch khủng bố mất liên lạc vào Nam Bộ làm ăn. Tháng 4-1944, tiếp tục hoạt động”. Như vậy là chỉ nói tham gia Mặt trận Bình Dân, không nói rõ tham gia Đảng. Chỉ nói “mất liên lạc vào Nam Bộ làm ăn. Tháng 4-1944 tiếp tục hoạt động”. Như vậy là từ năm 1939 đến tháng 4 năm 1944 làm ăn, không hoạt động gì, thời gian đó là hơn 5 năm. 5 năm không phải là thời gian ngắn.

    Bản tóm tắt lý lịch tháng 11-1976 như vậy, thế thì làm sao lại có thể sinh ra trong bản tóm tắt lý lịch lần 2: “ngày vào Đảng là ngày 30-5-1938, ngày chính thức là ngày 05- 10 - 1938?” Vì sao đến năm 1986 lại nhớ cụ thể ngày tháng kết nạp chính thức đến như vậy? Nếu được kết nạp chính thức rồi mà trong suốt 5 năm ấy, sao không tìm cách bắt liên lạc với Đảng? Khi vào Hội An, phong trào cách mạng ở Hội An, Duy Xuyên, Quảng Nam rất mạnh. Tổ chức Đảng và các tổ chức công khai như các hội ái hữu, các nghiệp đoàn đều hoạt động mạnh, ngay trong Sở đạc điền mà Lê Đức Anh làm thư ký cũng có tổ chức quần chúng của Đảng. Rõ ràng có sự man trá trong lý lịch của Anh.

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 4)

    Trả lờiXóa
  85. (Lê Đức Anh-phần 4)

    Xem nguyên văn bức thư tại: (3)

    Thứ hai, ông Năm Thi là một cộng sản kỳ cự trong bức thư gửi Lê Đức Thọ yêu cầu xác minh lý lịch và các vấn đề về Lê Đức Anh viết ngày 2 - 8 - 1986 có nói: “Đầu năm 1945, tôi (Năm Thi là Ủy viên Ban cán sự Thủ Dầu Một) được phân công đến Lộc Ninh để kiểm điểm khả năng tổ chức lực lượng Mặt trận Việt Minh... Tháng 2-1945 một tổ chức Mặt trận Việt Minh trong công nhân cao su... Ngày vào Đảng năm 1945 (của đồng chí Lê Đức Anh) do Đảng bộ Thủ Dầu Một có thể là đúng. Còn trước năm 1945, tôi (Năm Thi) chưa thấy rõ vì không có sự giới thiệu nào là một đồng chí đảng viên nằm vùng... Nhiều đồng chí chí cho rằng: đồng chí Lê Đức Anh chưa được kết nạp hoặc chưa được kết nạp chính thức. cho nên mới dùng cái từ “lấy đó làm ngày kết nạp, lấy đó làm ngày chính thức”. Vì vậy, yêu cầu thẩm tra đảng tịch đồng chí Lê Đức Anh của nhiều đồng chí lão thành cách mạng là có lý do xác đáng. Nhiều đồng chí cán bộ, đảng viên nghi vấn đồng chí Lê Đức Anh chưa được kết nạp vào Đảng là có lý do... cần phải Điều tra lý lịch ngày vào Đảng có phải là 44 hay 39?...”

    Như vậy rõ ràng Lê Đức Anh tự khai vào Đảng ngày 30 tháng 5 năm 1938 và chính thức ngày 05 tháng 10 năm 1938 là khai man.

    Thứ ba, một bức thư khác của 3 ông tướng cộng sản Phùng Thế Tài, Lê Tự Đồng và Hoàng Minh Thảo đề ngày 2/4/2001 cũng đã cho thấy Lê Đức Anh là một nhân vật bất minh ngay cả với cộng sản:“Ngoài những điểm trên, chúng tôi xin hỏi Ủy ban kiểm tra Trung ương có nghe đồn về việc Lê Đức Anh đã khai man lý lịch để nhận Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng và đã có thời kỳ làm cai phu Đồn điền. Nghe đâu đã có một đồng chí đã tố giác việc này. Thực hư ra sao chúng tôi không rõ, nhưng đây là vấn đề bảo vệ trong sạch của Đảng và cũng là sinh mệnh chính trị của đảng viên, rất mong Ủy ban kiểm tra Trung ương có xác minh, kết luận rõ ràng.”.

    3. Lê Đức Anh thực chất là ai?

    Lê Đức Anh học tiểu học ở Huế, năm 11 tuổi ra Vinh học tiếp nhưng chỉ được một vài năm. Huy Đức viết: “Học vấn của ông Lê Đức Anh ở mức đọc thông viết thạo” (QB, tr. 103). Và con ngươi thật của Lê Đức Anh ra sao? Hãy đọc những tài liệu sau đây:

    Thứ nhất, hãy đọc thêm một bức thư nữa của một số vị cộng sản kỳ cựu để thấy lý lịch của Lê Đức Anh thế nào và Lê Đức Anh là ai.

    “Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 02 năm 2005

    Kính gởi:
    - Bộ chính trị
    - Ủy ban kiểm tra trung ương đảng
    - Ban chấp hành trung ương đảng khóa 9

    Đồng kính gởi:
    - Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh
    - Đại tướng Võ Nguyên Giáp
    - Đ/c Lê Khả Phiêu, nguyên tổng bí thơ
    - Đ/c Nguyễn Đức Tâm, nguyên ủy viên bộ chính trị, trưởng ban tổ chức trung ương

    Chúng tôi gồm:

    1. Phạm Văn Xô (Hai Xô) sinh năm 1910, vào đảng năm 1930, nguyên ủy viên thường vụ Xứ ủy Nam Bộ thời kháng chiến chống Pháp; ủy viên thường vụ Trung ương Cục miền Nam - trưởng ban kiểm tra trung ương Cục thời chống Mỹ, nguyên ủy viên ban chấp hành trung ương đảng; ủy viên ban kiểm tra trung ương khóa 3, nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh.

    2. Đồng Văn Cống (Bảy Cống), trung tướng, sinh năm 1918, nguyên trung đoàn trưởng trung đoàn 99 Nam Bộ thời kháng chiến chống Pháp; tư lệnh quân khu 9, phó tư lệnh quân giải phóng miền Nam, ủy viên quân ủy Miền thời kháng chiến chống Mỹ; tư lệnh quân khu 7, phó tổng thanh tra quân đội sau ngày đất nước thống nhất, nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh.

    3. Nguyễn Văn Thi (Năm Thi) sinh năm 1920, nguyên ủy viên ban cán sự đảng, ủy viên tỉnh ủy, ủy viên thường vụ tỉnh ủy Thủ Dầu Một (nay là tỉnh Bình Dương) từ năm 1942 đến năm 1946, chi đội trưởng chi đội I, liên trung đoàn trưởng 301-310, tư lệnh đặc khu Sài Gòn-Chợ Lớn (1950), bí thư đảng bộ nhà tù Côn Đảo (1953) thời kháng chiến chống Pháp; chủ nhiệm hậu cần bộ chỉ huy Miền thời chống Mỹ, nghỉ hưu tại thành phố Hồ Chí Minh.

    Có thư báo cáo và kiến nghị lên các cơ quan lãnh đạo cao nhất của đảng mấy điểm sau đây:

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 5)

    Trả lờiXóa
  86. (Lê Đức Anh-phần 5)

    Có thư báo cáo và kiến nghị lên các cơ quan lãnh đạo cao nhất của đảng mấy điểm sau đây:

    Thời gian qua, nhiều cán bộ lão thành cách mạng và cựu chiến binh cao tuổi ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Nam Bộ đến gặp chúng tôi hỏi tình hình nội bộ đảng. Họ đưa chúng tôi xem nhiều tài liệu mà con cháu họ truy cập được từ Internet. Trong các tài liệu đó, có thư của nhiều tướng lĩnh và lão thành cách mạng gửi bộ chính trị và trung ương khóa 9, đặc biệt là thư ngày 3-1-2004 của đại tướng Võ Nguyên Giáp; các thư của thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, nguyên phó chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, nguyên ủy viên trung ương đảng các khóa 5, 6, 7; của đồng chí Nguyễn Trọng Vĩnh, 65 tuổi đảng, nguyên cục trưởng cục tổ chức Tổng cục chính trị Quân Đội Nhân Dân Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp, ủy viên trung ương đảng khóa 3; của đồng chí Nguyễn Tài, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên thứ trưởng bộ công an, phó chủ nhiệm ủy ban pháp luật của quốc hội khóa 8.

    Các bức thơ tâm huyết đó đều kiến nghị bộ chính trị phải sớm đưa ra hội nghị trung ương đảng xem xét và xử lý một loạt các vụ việc nghiêm trọng liên tiếp xảy ra trong đảng hàng chục năm qua, trong đó có vụ T4, từng được bộ chính trị khóa 8 bàn giao lại cho bộ chính trị khóa 9 và được coi là "một vụ án chính trị siêu nghiêm trọng" nhưng đến nay vẫn chưa vạch mặt những kẻ cầm đầu để xử lý một cách triệt để.

    Những vụ việc trên, chúng tôi ít nhiều đều có nghe, có biết. Qua các thư trên, chúng tôi càng hiểu rõ hơn. Nhưng do phải chờ kết luận của trung ương, chúng tôi không thể giải thích cho những người đến hỏi.
    Nay xin báo cáo và cung cấp một số tư liệu để trung ương có thêm căn cứ xem xét nguồn gốc các vụ việc nói trên.

    Theo chúng tôi thì những vụ việc nghiêm trọng xảy ra trong hơn hai chục năm qua, từ vụ Xiêm Riệp (1983), Sáu Sứ (1991), vụ nâng Cục 2 lên thành Tổng Cục 2 với quyền hạn siêu đảng, siêu nhà nước, được hợp pháp hóa bằng pháp lệnh tình báo của quốc hội và nghị định 96/CP của chính phủ, vụ T4 (1997-1999), đến vụ nói xấu, vu khống nhằm lật đổ tổng bí thư Lê Khả Phiêu trước đại hội 9, v.v., đều có bàn tay của nhân vật từng hoạt động cách mạng và kháng chiến ở Nam Bộ mà chúng tôi đều biết rõ. Đó là nguyên cai đồn điền cao su, nguyên chủ tịch nước, nguyên cố vấn Lê Đức Anh.

    Vì sự trong sạch và vững mạnh của đảng, với ý thức trách nhiệm của những người cộng sản từng gắn bó với đảng và hoạt động ở Nam Bộ hơn sáu bảy chục năm qua, chúng tôi xin báo cáo với đảng một số hiểu biết về Lê Đức Anh như sau:

    1. Lê Đức Anh không phải là công nhân cao su như tự khai trong lý lịch mà là người phụ trách việc chế biến thực phẩm cho chủ đồn điền và các quan chức Pháp ở Lộc Ninh (chef des cooperatives) từ đầu thập kỷ 40 của thế kỷ 20, được anh chị em công nhân cao su đặt cho biệt danh là "cai lé", do chột mắt vì bệnh đậu mùa. Lê Đức Anh là người giúp việc thân cận của chủ đồn điền De Lalant (Delalande?), một sĩ quan phòng nhì của Pháp. Lương của y cao như lương của chef de camp.

    Năm 1955, sau khi bộ đội Nam Bộ tập kết ra miền Bắc, đồng chí Trần Văn Trà là tư lệnh kiêm chính ủy, đồng chí Nguyễn Văn Vịnh là phó chính ủy, đồng chí Đồng Văn Cống làm tham mưu trưởng, Lê Đức Anh làm tham mưu phó. Thấy Lê Đức Anh không được vào đảng ủy, đ/c Đồng Văn Cống hỏi thì đ/c Vịnh trả lời: "Qua lớp chỉnh đảng ở Việt Bắc, lý lịch của Lê Đức Anh không rõ, nên không giới thiệu".

    Trong một lần tâm sự với Lê Đức Anh, đ/c Đồng Văn Cống hỏi: "Nghe người ta nói cậu là surveillant?". Lê Đức Anh không trả lời. Đ/c Đồng Văn Cống hỏi tiếp: "Hay cậu là 2è bureau (phòng nhì)?". Lúc ấy Lê Đức Anh mới trả lời: "Tôi làm công chức cho đồn điền".

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 6)

    Trả lờiXóa
  87. (Lê Đức Anh-phần 6)

    Đến Đại hội đảng lần 4 năm 1976, đ/c Đồng Văn Cống, Lê Đức Anh và Nguyễn Chánh Nam Bộ cùng dự đại hội, sinh hoạt trong đoàn quân sự. Khi xem danh sách giới thiệu vào trung ương khóa 4, thấy ghi Lê Đức Anh là công nhân cao su, đ/c Đồng Văn Cống hỏi: "Sao cậu khai là công nhân?". Lê Đức Anh ấp úng trả lời: "Họ ghi sai, tôi là công chức!".

    2. Lê Đức Anh không phải là đảng viên từ năm 1938 mà từ tháng 4 năm 1945, khi ban cán sự đảng Thủ Dầu Một tuyên bố tổ chức y vào đảng và giao nhiệm vụ cho y về gây dựng cơ sở cách mạng ở đồn điền cao su Lộc Ninh trong một cuộc họp có 8 người, trong đó có đồng chí Năm Thi tham dự, vì thấy y tỏ ra hăng hái trong phong trào công nhân cao su ở Lộc Ninh sau ngày Nhật đảo chánh Pháp. Cuộc họp đó do bí thơ Văn Công Khai chủ trì bàn việc phối hợp với phe đồng minh chống phát xít Nhật theo chủ trương chung của mặt trận Việt Minh.

    Do man khai đảng viên từ năm 1938, nên năm 1998, Lê Đức Anh được tặng huy hiệu 60 năm tuổi đảng, được báo chí, truyền hình rầm rộ đưa tin trên cả nước!
    Đầu năm 2002, để tiếp tục "hợp thức hóa" đảng tịch của mình, Lê Đức Anh cho công chiếu trên đài truyền hình trung ương bộ phim tài liệu nhan đề "Đồng chí Lê Đức Anh" vào tối mùng 4 Tết. Không tìm được "nhân chứng lịch sử" nào sáng giá hơn, người ta cho xuất hiện một ông anh trong gia đình để xác nhận "Lê Đức Anh từng đậu Đíp-lôm (bằng Thành Chung) và vào đảng năm 1938!".

    3. Lê Đức Anh đã hai lần để sổng toàn quyền Decoux, thống đốc Nam Kỳ Hoffen và chủ đồn điền De Lalant, sĩ quan phòng nhì của Pháp.

    Trong cuộc đảo chánh Nhật-Pháp ngày 9-3-1945, quân Nhật bắt được toàn quyền Pháp ở Đông Dương Decoux và thống đốc Nam Kỳ Hoffen tại Sài Gòn, sau đó giải về giam ở nhà De Lalant, chủ đồn điền cao su ở Lộc Ninh. Đ/c Năm Thi được giao nhiệm vụ dẫn một đội vũ trang lên Lộc Ninh tìm cách bắt sống hoặc tiêu diệt tiểu đội bảo vệ của Nhật, rồi tổ chức dẫn độ Decoux và đồng bọn lên Buôn Mê Thuột để đưa ra Bắc chuyển giao cho trung ương. Đ/c Năm Thi đã bàn bạc với Lê Đức Anh và nhất trí lên kế hoạch phối hợp hành động. Nhưng đêm hôm sau, y bất ngờ hủy bỏ kế hoạch, viện cớ sẽ bị quân Nhật kéo lên khủng bố, phá vỡ cơ sở cách mạng của y!

    Tháng 9-1945, khi chỉ huy quân Anh vào Nam vĩ tuyến 16 tiếp nhận sự đầu hàng của quân Nhật, tướng Gracey đòi Nhật trao Decoux và đồng bọn cho quân đội Anh. Để ngăn cản việc đó, tỉnh ủy Thủ Dầu Một chủ trương cắt đường giao thông từ Lộc Ninh về Sài Gòn, bằng cách đốn cây cản đường từ Lộc Ninh về Hớn Quản rồi phục kích tiêu diệt lực lượng áp giải để bắt bọn Decoux, đơn vị của Lê Đức Anh đã được bổ sung thêm vũ khí để thực hiện nhiệm vụ này. Y nhận lệnh nhưng đã tránh né, cử người khác làm thay. Tên này đã lệnh cho tự vệ dỡ cây và mở đường cho bọn Nhật đưa Decoux, Hoffen và De Lalant về Sài Gòn an toàn!

    4. Trong thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ, Lê Đức Anh đã bỏ chạy, không tổ chức cho lực lượng võ trang đánh trả quân Pháp tập kích vào Thuận Lợi, phá hủy một khối lượng lớn cơ sở vật chất dự trữ của miền Đông.

    Để chuẩn bị cơ sở vật chất cho cuộc kháng chiến, ta chủ trương di chuyển máy móc thiết bị, vật tư, lương thực của các đồn điền cao su và các địa phương miền Đông Nam Bộ về khu vực Thuận Lợi (Phú Riềng cũ) thuộc công ty cao su Dầu Tiếng là địa bàn ở sâu trong hậu phương ta. Trong khi quân Pháp tập kích Thuận Lợi, Lê Đức Anh và lực lượng võ trang thuộc quyền của y đang đóng trên đất Thuận Lợi nhưng đã không tổ chức chiến đấu đánh trả quân địch mà bỏ chạy dài về Cổng Xanh, chiến khu Đ. Do đó, Thuận Lợi bị quân Pháp đốt cháy toàn bộ kho tàng, nhà cửa trong ba ngày đêm liền. Nghe tin tư lệnh Nguyễn Bình sẽ xử tử mình vì tội đó, Lê Đức Anh bèn lánh mặt, đưa quân về vùng Bắc Bến Cát. (Lúc ấy, đ/c Năm Thi là ủy viên thường vụ tỉnh ủy, chi đội phó, kiêm tham mưu trưởng chi đội I Thủ Dầu Một nên biết rõ việc này).

    5. Từ năm 1979 đến 1989, lãnh đạo và chỉ huy quân tình nguyện Việt Nam chiến đấu và giúp bạn ở Campuchia, Lê Đức Anh đã phạm nhiều sai lầm về chính trị và quân sự.

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 7)

    Trả lờiXóa
  88. (Lê Đức Anh-phần 7)

    - Về chính trị: ngoài vụ Xiêm Riệp bắt nguồn từ chủ trương "đánh địch ngầm" do Lê Đức Thọ và Lê Đức Anh đề ra, Lê Đức Anh đã có nhiều biểu hiện và hành vi coi thường bạn, cho kiểm tra nhà ở của một số ủy viên bộ chính trị đảng nhân dân cách mạng Campuchia, bao biện làm thay, can thiệp vào công việc nội bộ, bắt bớ đảng viên của bạn khiến bạn phản ứng và nghi ngờ tình cảm quốc tế trong sáng của đảng, nhà nước và quân đội ta.

    - Về quân sự: đã đánh giá quá thấp kẻ địch, chủ trương "trong năm 1980, quét sạch quân địch ngoài địa hình mà trọng điểm là vùng rừng Ô-Ran, đồng thời hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ phá tan âm mưu địch dùng phần tử hai mặt lũng đoạn đảng và chính quyền của bạn". Đã chỉ đạo chiến tranh theo kiểu ăn đong, năm này chưa xong thì năm sau, kéo dài đến mười năm vẫn chưa diệt được đối thủ mà Lê Đức Anh gọi là "tàn quân" Pôn Pốt!

    Từ cuối năm 1979, Lê Đức Anh đề ra chủ trương "khóa chặt biên giới", "xây dựng tuyến phòng thủ biên giới" với mật danh K5 bằng cách huy động đông đảo nhân dân các địa phương nước bạn, từ rừng núi đến đồng bằng lên biên giới cùng quân tình nguyện Việt Nam và bộ đội bạn chặt cây, đào hào, rải chông và căng giây thép gai nhằm ngăn chặn quân Pôn Pốt từ Thái Lan vào đất Campuchia (!). Mặc dù ta và bạn đã bỏ ra nhiều công sức và tiền của trong nhiều năm, nhưng biên giới vẫn không "khóa chặt" được, địch vẫn mở được hành lang qua biên giới vào nội địa, xây dựng được nhiều căn cứ dọc biên giới, có nơi vào sâu đến 30, 40 kilômét.

    Do chủ trương sai lầm của Lê Đức Anh mà hàng chục vạn cán bộ chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam cũng như bộ đội và nhân dân bạn đã bỏ xác trên tuyến biên giới dài 1.200 km cũng như trong nội địa do bị địch đánh úp, do mìn và sốt rét ác tính!

    Mặc dù vậy, đến năm 1983, Lê Đức Anh vẫn cho rằng ở Campuchia chưa có chiến tranh, chỉ mới là những "hoạt động du kích" của "tàn quân Pôn Pốt". Chúng sẽ bị tàn lụi vào năm 1985 như nghị quyết của ban cán sự và bộ tư lệnh 719! Khi bộ phận tiền phương của cục khoa học quân sự bộ tổng tham mưu tại Campuchia đề nghị nên có sự đánh giá khách quan hơn, có sự chỉ huy chiến tranh bài bản hơn trên cơ sở nghiên cứu tính chất và đặc điểm của cuộc chiến tranh ở Campuchia để tìm ra quy luật đặc thù của nó, thì Lê Đức Anh nổi giận, ra lệnh cho cơ quan tiền phương cục khoa học quân sự gồm 10 đại tá phải rút ngay về nước, trả lại cho bộ tổng tham mưu với lý do "tinh giản biên chế ở chiến trường!".

    Có những sai lầm khuyết điểm như trên, nhưng Lê Đức Anh vẫn thăng tiến rất nhanh, từ ủy viên trung ương khóa 4 lọt vào bộ chính trị khóa 5 rồi tiến lên nắm chức bộ trưởng bộ quốc phòng, chủ tịch nước!

    6. Trong quan hệ gia đình, Lê Đức Anh là người chồng phản bội: Ra Bắc được mấy năm, Lê Đức Anh nói với đ/c Đồng Văn Cống là sẽ xin lấy vợ khác, vì bà Bảy Anh trong Nam đã lấy chồng, lại thuộc thành phần gia đình phản động làm tay sai cho địch! Đ/c Đồng Văn Cống nói: "Hôm ở Cao Lãnh tôi thấy chị Bảy khóc rất dữ khi tiễn Anh đi tập kết; nghe nói sau đó chị về công tác ở miền Đông, căn cứ vào đâu mà anh nói Chị đi lấy chồng và theo địch? Tôi không tán thành".

    Nhưng rồi nhờ sự ủng hộ của Lê Đức Thọ, Lê Đức Anh vẫn bỏ được vợ cũ, lấy được vợ mới. Trong lúc đó thì trong hoàn cảnh đấu tranh khốc liệt và gian khổ ở miền Nam, chị Bảy Anh vẫn một lòng kiên trung chờ đợi và tiếp tục hoạt động cách mạng, làm ủy viên tỉnh ủy Bình Dương cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng!
    Khi biết chuyện này, các đồng chí Phạm Hùng, Nguyễn Thị Định và đồng bào cán bộ miền Nam đều rất bất bình, cho Lê Đức Anh là một tên vô đạo đức!

    Thưa bộ chính trị và ban chấp hành trung ương đảng!

    Đây không phải lần đầu tiên các đảng viên Nam Bộ báo cáo với đảng những hiểu biết nói trên về Lê Đức Anh.

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 8)

    Trả lờiXóa
  89. (Lê Đức Anh-phần 8)

    Từ năm 1982, khi được tin Lê Đức Anh vào bộ chính trị khóa 5, đồng chí thiếu tướng Tô Ký và hai đồng chí Bảy Cống và Năm Thi bàn nhau và đã làm báo cáo gởi ủy ban kiểm tra trung ương đảng và thường vụ thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, nhưng không có hồi âm!

    Cuối năm 1986 đầu năm 1987, khi thấy Lê Đức Anh lại được bầu vào bộ chính trị rồi làm bộ trưởng bộ quốc phòng sau hai cái chết bất ngờ của hai đại tướng Hoàng Văn Thái và Lê Trọng Tấn, đ/c Nguyễn Văn Thi lại viết thơ tay gởi trực tiếp đến các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Đức Tâm, Lê Đức Thọ nói rõ lai lịch và những hành động đáng ngờ của Lê Đức Anh trước và sau cách mạng tháng 8-1945, nhưng 18 năm qua các khóa trung ương vẫn chưa có trả lời.

    Đến Hội nghị trung ương 11B khóa 8 tháng 2 năm 2001, trước thủ đoạn nói xấu, vu khống quá lộ liễu của Lê Đức Anh nhằm lật đổ tổng bí thơ Lê Khả Phiêu, đồng chí Hai Xô đang làm việc ở Hà Nội biết đ/c Năm Thi từng có đơn tố giác, bèn gọi Năm Thi ra gặp các đồng chí Hai Xô, Nguyễn Đức Tâm, Mười Hương và ủy ban kiểm tra trung ương để làm rõ quá khứ của Lê Đức Anh (đ/c Đồng Văn Cống không ra Hà Nội trực tiếp báo cáo, đã phát biểu vào băng ghi âm gởi ra ủy ban kiểm tra trung ương vào đầu tháng 3 năm 2001). Trong cuộc họp đó, đ/c Nguyễn Đức Tâm xác nhận: khi làm trưởng ban tổ chức trung ương, có nhận được thơ tố giác của đ/c Năm Thi, đã báo cáo với Lê Đức Thọ nhưng được trả lời là gác lại, giải quyết sau. Thấy Lê Đức Anh được Lê Đức Thọ bảo vệ, đ/c Nguyễn Văn Linh đành phải gác qua. Cũng trong cuộc họp đó, đ/c Hai Xô phát biểu: "Nếu không chặn đứng được mưu đồ của Lê Đức Anh và đồng bọn, thì tình hình nội bộ đảng sẽ ngày càng nghiêm trọng!".

    Như vậy là hơn hai chục năm qua, qua nhiều lần đại hội đảng và nhiều khóa trung ương, chúng tôi đã nhiều lần nói rõ về Lê Đức Anh, nhưng mãi cho đến nay lai lịch, và các hành vi sai trái của nhân vật này vẫn chưa được xác minh và xử lý, gây tác hại nghiêm trọng đến sự trong sạch và vững mạnh, sự đoàn kết và thống nhất của đảng.

    Chúng tôi nhất trí với ý kiến của đại tướng Võ Nguyên Giáp là "ban chấp hành trung ương khóa 9 cần xử lý kiên quyết, dứt điểm, nghiêm minh những vụ việc tồn đọng nói trên theo đúng điều lệ của đảng, pháp luật của nhà nước, và kỷ luật của quân đội, dù người đó là ai, ở bất kỳ cương vị nào!".

    Chúng tôi tán thành ý kiến của các đ/c Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Nam Khánh, Nguyễn Tài v.v. là "không cho phép duy trì mãi một tổ chức siêu đảng, siêu chính phủ, không thể để Tổng Cục 2 tồn tại với quyền hạn quá rộng như nghị định 96/CP cho phép, mà chỉ tập trung vào nhiệm vụ tình báo quân sự trực thuộc bộ tổng tham mưu như trước đây".

    Không cho phép tái diễn những hành vi hãm hại người trung thực, như người ta từng vu khống, tước quân hàm và định bắt giam thượng tướng Trần Văn Trà, sau đó phải trả lại quân hàm mà không công bố; từng vu khống với ý đồ hãm hại đại tướng khai quốc công thần Võ Nguyên Giáp!

    Chúng tôi cho rằng: không chỉ riêng vụ T4 mà toàn bộ những vụ việc xảy ra mấy chục năm qua là những mắt xích của một vụ án chính trị nghiêm trọng nhất trong lịch sử 75 năm của đảng, có quan hệ đến sự tồn vong của đảng và đất nước.

    Đây không phải là "chuyện ngày xưa" của mấy vị cách mạng lão thành mà các khóa bộ chính trị và trung ương sau này không thể làm rõ được. Không! Đây là những vấn đề lịch sử quan trọng cần xác minh để soi sáng những vụ việc ngày nay. Mảnh đất Lộc Ninh và không ít nhân chứng cùng thời vẫn còn sống. Chỉ cần có trách nhiệm, có dũng khí và quyết tâm là làm được! Chúng tôi sẵn sàng có một cuộc đối chất trực diện nếu có bộ chính trị yêu cầu!

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 9)

    Trả lờiXóa
  90. (Lê Đức Anh-phần 9)

    Không thể vin vào lý do: "ổn định nội bộ" mà bỏ qua và che giấu việc này, vì nhiều tài liệu đã được công bố trên Internet, nên trong đảng cũng như ngoài đảng, trong nước cũng như ngoài nước, nhiều người đã biết các vụ việc xảy ra. Hồ chủ tịch nói: "Một đảng che giấu khuyết điểm sai lầm của mình là một đảng hỏng!". Bộ chính trị càng bưng bít thì càng mất uy tín, càng làm giảm lòng tin của đảng viên và quần chúng đối với trung ương.

    Đúng như đồng chí Nguyễn Trọng Vĩnh đã cảnh báo: "Đang có những làn sóng bất bình ngầm ngày càng lan rộng. Sự yên lặng hiện nay là sự yên lặng của những quả bom nổ chậm chưa đến giờ hẹn". Tình hình trong Nam cũng vậy.

    Kính mong bộ chính trị và ban chấp hành trung ương lắng nghe tiếng nói đầy tâm huyết của các tướng lĩnh, các cán bộ cách mạng lão thành mà quá trình hoạt động và sự đóng góp cho cách mạng đã chứng minh sự trung thành của họ.

    Giải quyết dứt điểm và thành công vụ án chính trị siêu nghiêm trọng này, kiên quyết loại trừ những phần tử cơ hội ra khỏi các cơ quan quyền lực của đảng và nhà nước, chấm dứt các hiện tượng cá nhân lũng đoạn là việc làm cấp thiết và cực kỳ quan trọng để chuẩn bị cho đại hội toàn quốc lần thứ 10 của đảng.

    Đây cũng là việc làm thiết thực kỷ niệm 75 năm ngày thành lập đảng ta!

    Xin gởi đến các đồng chí bộ chính trị và trung ương lời chào trân trọng và rất mong được sớm trả lời!

    Xin cám ơn.

    Phạm Văn Xô
    Địa chỉ: 225-18 Xô Viết nghệ Tinh, quận Bình Thạnh,
    TP. Hồ Chí Minh - Điện thoại: 8.991300

    Đồng Văn Cống
    Địa chỉ: 774-2 Nguyễn Kiệm, quận Phú Nhuận,
    TP. Hồ Chí Minh - Điện thoại: 8.447328

    Nguyễn Văn Thi
    Địa chỉ: 20B88 Cư xá Nguyễn Trung Trực, đường 3-2, quận 10,
    TP. Hồ Chí Minh - Điện thoại: 8.655878”.

    Qua bức thư chúng ta thấy gì? Đó là chính cộng sản đã khẳng định Lê Đức Anh là cai cao su ác ôn chứ không phải viên chức hay công nhân. Vậy mà hắn dám giả danh người lương thiện. Đó là tội ác cần được phanh phui. Ngoài ra xung quanh con người này cũng là một sự thủ đoạn và chống phá ngay cả đồng chí của mình. Do đó nhân cách của Anh chỉ là số không tròn trĩnh.

    Thứ hai, để khẳng định Lê Đức Anh là cai lé đánh đập phu đồn điền cao su chúng ta cùng đọc đoạn trích sau từ báo cáo tổng cục chính trị bộ quốc phòng cộng sản năm 2005: “Việc một số nguồn tin đồng chí Lê Đức Anh đã từng có thời gian làm phu coi đồn điền cao su là có thật. Tuy nhiên sau đó đồng chí đã công khai minh bạch điều này với tổng cục chính trị, ban bí thư trung ương đảng năm 1995. Xét công lao và thành tích của đồng chí trong 2 cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc và trong suốt quá trình làm cai phu đồng chí không gây tội ác nào với nhân dân nên đảng và nước thống nhất chấm dứt mọi nghi kỵ xung quanh việc này...”.

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 10)

    Trả lờiXóa
  91. (Lê Đức Anh-phần 10)

    Mặc dù báo cáo là vậy. Tuy nhiên nếu đọc đầy đủ các báo cáo mật của Vũ Quốc Hùng, hay thư của Nguyễn Chính Tâm (cộng sản kỳ cựu) cho thấy Lê Đức Anh là một kẻ nhan hiểm và mưu mô đấu đá như bản thân cái gốc cai phu độc ác của mình:

    “Nhằm hạ bệ Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu trước Đại hội IX bằng việc gây sức ép nhiều mặt để yêu cầu Ban Chấp hành Trung ương phải kỷ luật Lê Khả Phiêu trước khi tổ chức Đại hội IX (bởi vì Lê Khả Phiêu đã qua mặt cả Lê Đức Anh và Đỗ Mười, có ý định giải tán Ban Cố vấn hay chọc gậy bánh xe, không muốn để cho 2 ông Thái thượng hoàng này lộng quyền đứng trên Bộ Chính trị và Ban chấp hành Trung ương để sai khiến) nên Lê Đức Anh cùng tay sai là Nguyễn Bắc Son đã tiến hành những hoạt động hết sức mờ ám, bỉ ổi, thâm độc và vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức và Điều lệ Đảng. Có thể do nhiều nguyên nhân, nhưng trong đó sự tác động và chỉ huy của Lê Đức Anh và Đỗ Mười đã đóng vai trò quan trọng nhất trong việc ngăn chặn Lê Khả Phiêu tiếp tục ứng cử chức vụ Tổng Bí thư trong Đại hội IX của Đảng. Cũng chính vì vậy mà một kẻ ba phải, thiểu năng về trí tuệ nhưng tham lam và hãnh tiến, có mác là người dân tộc thiểu số đã được Đỗ Mười và Lê Đức Anh chọn làm Tổng Bí thư để dễ bề sai khiến. Còn kẻ phản thầy Trần Đình Hoan đã được thưởng cho chức Trưởng ban Tổ chức Trung ương để còn sắp xếp đệ tử của Đỗ Mười, Lê Đức Anh vào các vị trí then chốt, béo bở của bộ máy Đảng và Nhà nước; Nguyễn Khoa Điềm, đàn em thân tín của Lê Đức Anh đã được bố trí vào Bộ Chính trị để giữ chức Trưởng ban Tưởng Văn hóa Trung ương.

    Đáng tiếc là hình thức kỷ luật của Trung ương đối với Lê Đức Anh và Đỗ Mười là quá nhẹ (chúng tôi không rõ khiển trách hay cảnh cáo) và không được thông báo rộng rãi trong toàn Đảng để tất cả các đảng viên đều biết. Hơn nữa vấn đề man khai ngày vào Đảng của Lê Đức Anh cho đến nay vẫn chưa được kết luận chính thức. Đây không chỉ là trách nhiệm, khuyết điểm của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương khóa VIII mà còn là trách nhiệm nặng nề của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương khóa IX. Vì vậy vấn đề Đảng tịch của Lê Đức Anh cần được làm sáng tỏ trước khi tổ chức Đại hội X của Đảng để lấy lại lòng tin của đảng viên và các cán bộ cách mạng lão thành đối với Đảng.

    Điều đáng buồn hơn nữa là tên tay sai đắc lực của Lê Đức Anh là Nguyễn Bắc Son (kẻ đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức và điều lệ Đảng lại được Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và Trưởng ban Tổ chức Trung ương Trần Đình Hoan đạo diễn, bố trí giữ chức Bí thư tỉnh ủy Thái Nguyên để chui tiếp vào Ban chấp hành Trung ương khóa X. Qua đó chúng ta cũng thấy là thế lực của Lê Đức Anh, Đỗ Mười đang còn khá mạnh và tư cách của Nông Đức Mạnh, Trần Đình Hoan lại quá kém. Cũng may là Hội nghị Trung ương 13 đã loại được Trần Đình Hoan, Nguyễn Chí Vịnh, Nguyệt Việt Tiến... khỏi danh sách ứng cử viên Ban chấp hành Trung ương khóa X. Hy vọng Hội nghị Trung ương 15 và Đại hội X sẽ sáng suốt hơn để loại tiếp Nguyễn Bắc Son và cả Nông Đức Mạnh (vì đã quá tuổi 65, năng lực kém, tham lam, hãnh tiến, nhu nhược, thiếu bản lĩnh quyết đoán nên đã để cho Đỗ mười và Lê Đức Anh lộng hành sai khiến, chỉ biết yêu bản thân mình và nhiều tai tiếng như các thư phản ánh và góp ý kiến của các đồng chí nguyên ủy viên Trung ương Đảng các khóa trước đây như Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh, Trung tướng Nguyễn Hòa, đồng chí Lê Văn Hiển, đồng chí Nguyễn Trung Tín …, các lão thành cách mạng như đồng chí Nguyễn Văn Thi, Trần Đại Sơn …) ra khỏi danh sách mà Ban chấp hành Trung ương khóa IX giới thiệu cho Đại hội X.

    Nguyễn Chính Tâm
    Lão thành Cách mạng, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng” (4)

    Thứ ba, về con người Lê Đức Anh cũng là một kẻ lá mặt lá trái và cũng quen thói cộng sản đó là nói thì hay và làm thì khác. Hẳn chúng ta còn nhớ trong vụ án của anh Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng thì chính Lê Đức Anh đã nói: “Sử dụng bộ đội để cưỡng chế là tuyệt đối sai”.

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 11)

    Trả lờiXóa
  92. (Lê Đức Anh-phần 11)

    Nhưng cuối cùng thì Lê Đức Anh đã làm gì? Chỉ là nói mà thôi để rồi bè lũ cướp ngày của đồng chí X đưa anh Vươn vào tù trong khi Lê Đức Anh được tiếng “ vì dân”. Đó chính là bộ mặt thật của Lê Đức Anh cũng giống như nhiều ông già cộng sản “chỉ tốt, chỉ phản tình” khi hết ăn của dân được nữa.

    Ngoài ra, Lê Đức Anh còn là một tên tay sai hèn hạ của Lê Đức Thọ. Bằng chứng, đó là vào ngày 30/4/1975, Lê Đức Thọ hống hách ra lệnh cho Đại sứ Pháp là ông Mérillon phải rời Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Sau đó cần Pháp, thì lại sang quỵ lụy như việc vào năm 1989, sang chữa bệnh ung thư ở nhà thương quân đội Val de Grace, ở vùng Paris, năn nỉ Pháp giúp đỡ sau khi biết rõ Liên Xô sẽ sụp đổ, và thất bại trong việc năn nỉ Hoa Kỳ giúp đỡ, vì Hoa kỳ chú trọng đến Trung Cộng lúc bấy giờ. Việc năn nỉ Pháp cũng không mang đến kết quả vì Pháp cũng không có dồi dào về kinh tế và Pháp đặt điều kiện là phải dân chủ hóa chế độ. Điều kiện mà Thọ không chịu. Sau đó Lê Đức Thọ hèn hạ quay sang năn nỉ Trung Cộng. Chính Thọ đã ra lệnh cho 2 tay em của mình là Đỗ Mười và Lê Đức Anh thi hành lệnh của mình, nên mới đi đến quyết định họp với Trung Cộng ở Thành đô vào tháng 3/1990, một cuộc họp bán nước toàn diện cho Trung cộng tiếp nối ý tưởng của Hồ Chí Minh.

    Thứ tư, tội ác của Lê Đức Anh còn thể hiện khi hắn cùng Lê Đức Thọ chỉ đạo đánh sang cả Thái Lan vi phạm luật pháp quốc tế (Xin xem lại “Những sự thật cần phải biết - Phần 22”). Để khẳng định rõ vai trò của Lê Đức Anh trong vụ này chúng ta nên chú ý tới cuốn sách hồi ký “Cuộc chiến tranh bắt buộc” của đại tá cộng sản Nguyễn Văn Hồng. Cuốn sách có đoạn:

    “Tôi nhớ cũng trong mùa khô năm 1982-1983, khi tiến công một loạt các căn cứ còn lại dọc biên giới từ Ô-đa xuống Com Riêng, trung đoàn bộ binh 31 đã cho một lực lượng vượt qua biên giới Campuchia-Thái Lan, bố trí phục kích trên một con đường mòn chạy từ phía Nam lên Ô-đa-con đường này thuộc lãnh thổ Thái Lan. Trong lúc ta đang tiến công vào trận địa, thì có một toán lính theo con đường này tiến vào trận địa, anh em đã nổ súng diệt gọn toán địch. Khi tiến lên thu vũ khí, mới biết được toán địch này là lính biên phòng Thái Lan qua trang bị, phù hiệu và cấp hiệu đeo trên ve áo.

    Lập tức, máy bay trinh sát và máy bay C130 của không lực Thái lên quần lượn và bắn phá dọc biên giới. Chúng đã dùng súng mát 12,7 mm từ trên máy bay vãi đạn xuống đội hình của quân ta. Trước tình hình đó, các đơn vị điện lên Sở chỉ huy sư đoàn: -Có được bắn máy bay không? Đây là một tình huống ngoài dự kiến nên chưa có sự chuẩn bị trước. Chúng tôi đã báo cáo lên Sở chỉ huy Mặt trận. Hôm sau, Mặt trận tăng cường xuống cho chúng tôi mấy cơ cấu phóng A72 (loại tên lửa vác vai đi theo đội hình bộ binh). Tôi ra lệnh cho các đơn vị: -Hãy sẵn sàng! Nếu máy bay bắn vào đội hình của ta thì kiên quyết phải bắn hạ! Song do địa hình ở đây có ảnh hưởng đến tính năng kỹ thuật của loại súng hỏa tiễn này và cũng do trình độ sử dụng súng của anh em chưa tốt, nên khi có máy bay, ta bắn đến 5 quả đạn mà không đạt được kết quả. Tuy nhiên, đây cùng là lời cảnh cáo đối với nhà cầm quyền Thái Lan đã dung túng, bao che cho bọn phản động Pôn Pốt - Iêng Xa-ri, can thiệp vào công việc nội bộ của Campuchia.”.

    Qua đoạn trích chúng ta thấy điều gì? Đó là quân đội cộng sản đã vi phạm chủ quyền Thái, bắn chết lính Thái nhưng không xin lỗi mà còn dùng tên lửa phòng không vác vai bắn máy bay của quân đội Thái Lan. Điều đáng nói là quân của Nguyễn Văn Hồng đã xin ý kiến “trên”. Mà “trên” ở đây chính là Lê Đức Anh chỉ huy trực tiếp chiến trường Campuchia giai đoạn đó. Và quyết định đến việc đánh hay không trên đất Thái chính là một kẻ quyền thế hơn nhiều đó chính là Lê Đức Thọ.

    Bạn đọc có thể đọc toàn bộ cuốn sách tại trang của đội ngũ hồng vệ binh cộng sản: (5)

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 12)

    Trả lờiXóa
  93. (Lê Đức Anh-phần 12)

    II. Tham gia tích cực Bán nước:

    Lê Đức Anh là một tên cai phu cao su độc ác. Không những vậy nổi bật lên là tội ác bán nước cho Trung cộng một cách tích cực cùng bè đảng cộng sản. Hiện nay đã có rất nhiều tài liệu nói rõ ràng về điều đó.

    Thứ nhất, để vấn đề được minh bạch sáng tỏ, hãy đọc cuốn “Hồi ký Trần Quang Cơ” của ông Trần Quang Cơ, nhân chứng lịch sử giữ vai trò quan trọng trong Bộ Ngoại Giao của cộng sản Hà Nội vào thời điểm đó. Về vai trò làm đầu sai trong việc đưa nước ta vào tròng ách nô lệ giặc phương Bắc của Nguyễn Văn Linh, TBT đảng cs VN và Lê Đức Anh - đại tướng. Ông Trần Quang Cơ viết:

    “Ngày 5.6.90, vài ngày trước khi Từ Đôn Tín đến Hà Nội, TBT Nguyễn Văn Linh đã mời đại sứ Trương Đức Duy (vừa từ Bắc Kinh trở lại Hà Nội) đến Nhà khách Trung ương Đảng nói chuyện thân mật để tỏ lòng trọng thị đối với Bắc Kinh. Trong cuộc gặp, như để chấp nhận lời phê bình của Đặng (nói qua Kayson), Nguyễn Văn Linh nói: "Trong quan hệ hai nước, 10 năm qua có nhiều cái sai. Có cái đã sửa như việc sửa đổi Lời nói đầu của Hiến pháp, có cái sai đang sửa". Anh sốt sắng ngỏ ý muốn sang gặp lãnh đạo Trung Quốc để "bàn vấn đề bảo vệ Chủ nghĩa xã hội" vì "đế quốc đang âm mưu thủ tiêu chủ nghĩa xã hội... chúng âm mưu diễn biến hòa bình, mỗi đảng phải tự lực chống lại. Liên Xô là thành trì XHCN, nhưng lại đang có nhiều vấn đề. Chúng tôi muốn cùng các người cộng sản chân chính bàn vấn đề bảo vệ chủ nghĩa xã hội... Tôi sẵn sàng sang Trung Quốc gặp lãnh đạo cấp cao Trung Quốc để khôi phục lại quan hệ hữu hảo. Các đồng chí cứ kêu một tiếng là tôi đi ngay... Trung Quốc cần giương cao ngọn cờ chủ nghĩa xã hội, kiên trì chủ nghĩa Mác – Lênin ….Sáng 6.6.90, Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh lại gặp riêng và mời cơm đại sứ Trương Đức Duy. Cuộc gặp riêng chỉ giữa hai người, Trương Đức Duy vốn là thông dịch, rất thạo tiếng Việt nên không cần có người làm phiên dịch. Nội dung cuộc gặp này mãi đến ngày 19.6 trong cuộc họp BCT để đánh giá cuộc đàm phán 11-13.6 giữa tôi và Từ Đôn Tín, Lê Đức Anh mới nói là đã gặp Trương Đức Duy để nói cụ thể thêm ba ý mà anh Linh đã nói với đại sứ Trung Quốc (tham tán Lý Gia Trung và Bí thư thứ nhất Hồ Càn Văn) đã cho ta biết nội dung câu chuyện giữa Lê Đức Anh và Trương Đức Duy. Còn đại sứ Trung Quốc cho anh Ngô Tất Tố, Vụ trưởng vụ Trung Quốc biết là trong cuộc gặp ông ta ngày 6.6, anh Lê Đức Anh đã nói khá cụ thể về "giải pháp Đỏ": "Sihanouk sẽ chỉ đóng vai trò tượng trưng, danh dự, còn lực lượng chủ chốt của hai bên Campuchia là lực lượng Heng Somrin và lực lượng Polpot, Trung Quốc và Việt Nam mỗi bên sẽ bàn với bạn Campuchia của mình, và thu xếp để hai bên gặp nhau giải quyết vấn đề. Địa điểm gặp nhau có thể ở Việt Nam, có thể ở Trung Quốc, nhưng ở Trung Quốc là tốt hơn cả. Đây là gặp nhau bên trong, còn bên ngoài hoạt động ngoại giao vẫn như thường... Ngày xưa Polpot là bạn chiến đấu của tôi...”.

    Việc bán nước cho Trung cộng còn được Trần Quang Cơ tiết lộ thông qua sự dắt mối của Vũ Xuân Vinh, ông Trần Quang Cơ viết:

    “Theo Hồ Càn Văn, ngày 23.5.90 Cục trưởng Cục Đối ngoại Bộ Quốc phòng Việt Nam Vũ Xuân Vinh đã mời Tùy viên quân sự Trung Quốc Triệu Nhuệ đến để thông báo là TBT Nguyễn Văn Linh và Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh sẽ tiếp Từ Đôn Tín khi đến Hà Nội.”

    Qua đây cho thấy được là Lê Đức Anh chính là một tên bán nước và nhiệt tình trong việc đưa Việt Nam thành nô lệ cho Trung cộng.

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 13)

    Trả lờiXóa
  94. (Lê Đức Anh-phần 13)

    Thứ hai, bên cạnh hồi ký của Trần Quang Cơ là “hồi ký” của đại sứ Trung cộng Trương Đức Duy tại Hà Nội cùng thời điểm đó. (Bản tiếng Việt của dịch giả Quốc Thanh). Trước hết là những cuộc gặp bí mật giữa Lê Đức Anh với đại sứ Tầu Trương Đức Duy và giữa TBT Nguyễn Văn Linh với Trương Đức Duy do chính sứ Tầu viết. Về vai trò làm tay sai cho giặc của Lê Đức Anh, cũng chính do đại sứ Tầu Trương Đức Duy viết:

    “Hơn 10 năm qua, quan hệ Trung-Việt ở trạng thái không bình thường, sứ quán không có mối liên hệ nào với người tin cậy bên Nguyễn Văn Linh, vậy thì nên thông qua con đường nào đây để yêu cầu được gặp riêng một cách ổn thỏa hơn? Tôi triệu tập ngay cuộc họp Đảng ủy mở rộng, mời mọi người bàn bạc ra mưu sách. Ý tưởng thông qua con đường Vụ đối ngoại Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam thì sợ sẽ không giữ được bí mật, mà cũng khó để thực hiện “gặp riêng”.

    Có đồng chí nêu xem có thể thông qua con đường quân đội được không? Tôi cho như thế sẽ khá là ổn thỏa, lại càng có lợi hơn cho việc bảo mật. Thế là tôi liền nghĩ tới Thiếu tướng Vũ Xuân Vinh Cục trưởng Cục đối ngoại Bộ quốc phòng mà tôi khá thân thiết, từ ngày đến Việt Nam lần này, tôi đã gặp ông ta vài lần, quan hệ rất tốt, có thể thông qua ông ta để yêu cầu được gặp Đại tướng Lê Đức Anh (Ủy viên Bộ chính trị Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, Bộ trưởng Bộ quốc phòng) thân thiết với Nguyễn Văn Linh, rồi xin Lê Đức Anh giúp đỡ bố trí cho tôi bí mật gặp Nguyễn Văn Linh.

    Mọi người thấy biện pháp này có thể được. Thế là tôi lập tức cho Tùy viên quân sự Triệu Nhuệ liên hệ chính thức với Cục trưởng Vũ Xuân Vinh. Khi gặp Cục trưởng Vũ Xuân Vinh, Tùy viên quân sự Triệu đã trịnh trọng đề xuất: “Đại sứ Trương có việc gấp và quan trọng muốn được gặp Bộ trưởng Lê Đức Anh. Xin Cục trưởng bố trí cho ngay”.

    Chiều hôm đó, Vũ Xuân Vinh trả lời Tùy viên quân sự Triệu rằng: “Đồng chí Đại tướng rất vui lòng được gặp đồng chí Đại sứ, 8 giờ sáng hoặc 7 giờ tối mai đều được. Đại tướng còn nói, sau này đồng chí Đại sứ có muốn gặp ông thì cứ Cục đối ngoại Bộ quốc phòng bố trí là được”. Vào 8 giờ sáng ngày 20 tháng 8, xe của tôi chạy thẳng vào Bộ quốc phòng. Thiếu tướng Vũ Xuân Vinh đón đợi ở cổng tòa nhà, dẫn tôi vào phòng tiếp khách của Bộ trưởng rồi lui ra, khép chặt cửa lại. Tôi đang tiến thẳng vào thì Bộ trưởng Lê Đức Anh cũng bước vào phòng khách từ một cửa khác, khi gặp nhau Lê Đức Anh bắt tay, ôm tôi rất nhiệt tình.

    Tôi nói xã giao: “Thực sự được xin lỗi, mới sáng ra đã tới làm phiền đồng chí Đại tướng”. Đại tướng Lê Đức Anh mỉm cười bảo: “Đại sứ đến lúc nào tôi cũng tiếp”. Trong phòng khách ngoài hai chúng tôi ra, không có ai đi theo. Chuyện trò hàn huyên xong tôi chuyển ngay sang chủ đề chính, đầu tiên bày tỏ lãnh đạo Trung Quốc rất coi trọng mối quan hệ Trung-Việt, hiện nay tình hình quốc tế phát triển rất nhanh, thời gian không chờ đợi mình, cả hai bên cần chớp lấy thời cơ, nhanh chóng loại bỏ trở ngại là vấn đề Campuchia, từ đó thực hiện bình thường hóa quan hệ Trung-Việt.

    Sau đó tôi nhắc đến lời nhắn của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã được ghi lại gửi cho tôi, tôi cảm thấy hết sức quan trọng, cho nên mong được gặp riêng Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh để trực tiếp lắng nghe ý kiến của Tổng bí thư, đồng thời tôi cũng có một vài điều nữa cần nói với Tổng bí thư. Tôi nói, hiện giờ mà thông qua con đường khác sẽ có khó khăn, cho nên xin phiền đồng chí Đại tướng giúp cho. Lê Đức Anh nói rất thoải mái: “Đây quả thực là việc hết sức quan trọng, hôm nay tôi sẽ báo cáo lại yêu cầu của Đại sứ với Tổng bí thư”. Tiếp đó, Lê Đức Anh cũng nói về hai quan điểm, đại ý là: Thứ nhất, nhấn mạnh Nguyễn Văn Linh rất có tình cảm với Trung Quốc, luôn chủ trương thân thiện với Trung Quốc, từ sau khi nhậm chức Tổng bí thư vào năm 1986 đã làm rất nhiều việc để khôi phục lại mối quan hệ giữa hai nước hai Đảng. Trước tình hình thế giới phức tạp như hiện nay, việc thực hiện bình thường hóa quan hệ giữa hai nước lại càng trở thành niềm mong muốn ấp ủ của ông ấy...”

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 14)

    Trả lờiXóa
  95. (Lê Đức Anh-phần 14)

    Và cuộc gặp giữa Trương Đức Duy và Lê Đức Anh có kết quả diễn tiến theo lời kể của Trương Đức Duy như sau:

    “Chiều hôm đó, Cục trưởng Vũ Xuân Vinh hẹn gặp gấp Tùy viên quân sự Triệu, nói rằng: “Theo chỉ thị của Đại tướng Lê Đức Anh, xin chuyển lời tới Đại sứ Trương. Vào 19 giờ 30 phút ngày 22, Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh sẽ gặp riêng Đại sứ Trương tại phòng khách Bộ trưởng Bộ quốc phòng. Cả hai bên đều không đem theo phiên dịch và thư kí. Đề nghị Đại sứ Trương đổi sang một chiếc xe nhỏ, không cắm quốc kỳ, đi vào từ cửa bên Bộ quốc phòng...

    Vào 9 giờ tối hôm đó, Tùy viên quân sự Triệu vừa gặp mặt trung tá Vũ Tần đã nói thẳng vào vấn đề luôn rằng Đại sứ Trương có việc hết sức gấp và quan trọng, mong được gặp ngay Đại tướng Lê Đức Anh, xin đồng chí trung tá giúp bố trí cho. Vũ Tần bảo Đại tướng tối nay tham dự Hội nghị toàn thể Ban chấp hành trung ương khóa 9 Đảng cộng sản Việt Nam, không biết lúc nào tan. Tôi sẽ đến ngay nhà ông ta xem sao. Khi Đại tướng định giờ gặp một cái là tôi sẽ gọi ngay điện thoại báo cho anh biết. Tùy viên quân sự Triệu vừa về tới sứ quán chưa được bao lâu đã nhận ngay được trả lời điện thoại của Vũ Tần: “Đúng 8 giờ sáng mai Đại tướng sẽ gặp Đại sứ Trương, địa điểm vẫn ở chỗ cũ”. Sáng ngày 29, tôi đến phòng khách Bộ trưởng Bộ quốc phòng đúng giờ.

    Khi gặp mặt, Đại tướng Lê Đức Anh nói một cách dí dỏm: “Trông bộ dạng Đại sứ Trương vui thế kia, chắc là đem tin tốt lành đến cho chúng tôi rồi”. Tôi nói: “Chiều tối qua, tôi nhận được chỉ thị quan trọng của Trung ương. Cho nên, hôm nay vừa mới sáng ra đã lại tới làm phiền anh rồi”.

    Tiếp đó, tôi thông báo lại với Đại tướng Lê Đức Anh việc Tổng bí thư Giang Trạch Dân, Thủ tướng Lý Bằng mời Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng đi thăm Trung Quốc theo đường nội bộ, xin Lê Đức Anh chuyển lời mời đồng thời bố trí cho tôi được gặp Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh một lần nữa, để trả lời trực tiếp với đồng chí ấy.

    Lê Đức Anh bày tỏ: “Đây quả thực là một tin tốt lành, tôi nghe mà cảm thấy rất phấn khởi. Xin đồng chí Đại sứ cứ yên tâm, tôi sẽ báo cáo ngay với Tổng bí thư. Chuyến đi thăm lần này hết sức quan trọng, chúng tôi phải có những nỗ lực lớn nhất để chuyến đi thăm được thành công.”

    Sau khi cáo từ Lê Đức Anh về sứ quán được khoảng hơn 1 tiếng, Trung tá Vũ Tần ở Bộ quốc phòng Việt Nam đã hẹn với Tùy viên quân sự Triệu rằng: Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh sẽ cùng với Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Đỗ Mười gặp Đại sứ Trương vào 4 giờ chiều nay. Đại sứ có thể chính thức đề xuất yêu cầu được gặp mặt với Ban đối ngoại Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam...”

    http://4.bp.blogspot.com/-bPTWpPmVJFI/UlXaUr5MWgI/AAAAAAABbU4/3YyBLqhSscM/s320/temp-danlambao007.png
    (Hình trên) - Trương Đức Duy (đứng giữa) đang làm nhiệm vụ phiên dịch cho Hồ và Mao (ảnh công bố trên “Pháp chế vãn báo” báo số ra ngày 19/2/2012 được báo Lịch sử Đảng Cộng sản Trung cộng đăng lại)

    http://4.bp.blogspot.com/-tBiSM2czJOA/UlXakSyX8MI/AAAAAAABbVA/huwP_AIGANE/s1600/temp-danlambao007.png
    (Hình trên) - Qua đoạn hồi ký trên chúng ta thấy gì? Đó là Lê Đức Anh chính là kẻ muốn quy phục Trung cộng và tiếp tay cho Nguyễn Văn Linh và bộ sậu cộng sản bán nước cho giặc. Tội đó không thể tha thứ.

    Thứ ba, trên một bài báo của Vietnamnet (cộng sản) đã chỉ rõ vai trò kết nối bán nước của Lê Đức Anh như sau: “Sau khi ông Lê Đức Anh đi "tiền trạm" về. Từ ngày 3 đến ngày 10/11/1991, Tổng bí thư Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã thăm chính thức Trung Quốc. Hai bên Hội đàm, ra thông cáo chung và kí kết Hiệp định chính thức quan hệ bình thường giữ hai nước trên cơ sở 5 nguyên tắc hòa bình, đồng thời kí cả quan hệ bình thường giữa hai Đảng, khép lại 15 năm đối đầu căng thẳng.” (6)

    (Xin xem tiếp-Lê Đức Anh-phần 15)

    Trả lờiXóa
  96. (Lê Đức Anh-phần 15 - Phần kết)

    Tất nhiên là bài báo không được phép nói thẳng ra Lê Đức Anh bán nước nhưng chúng ta thấy sự thật đã rõ ràng khi Kiệt và Mười đi thăm bán nước cho Trung cộng. Và vai trò kết nối ở đây có công không nhỏ của Lê Đức Anh. Sự kiện này đã được chính báo cáo của bộ chính trị cộng sản về Lê Đức Anh như sau:” “Đồng chí Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt, Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh v.v… đã có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng khởi đầu cho mối quan hệ bẳng 16 chữ vàng và 4 tốt hiện nay. Tiếp nối truyền thống của Mao chủ tịch và Hồ chủ tịch đã xây dựng …” (6)

    http://2.bp.blogspot.com/-e_kTgzhEjno/UlXbZbbRdHI/AAAAAAABbVI/2T70sYwdl4Y/s400/temp-danlambao007.png
    (Hình trên) - (“Ngày 19-11-1994 Tại Hà Nội, Đỗ Mười và Lê Đức Anh tại lễ đón tiếp Tổng bí thư Đảng Cộng sản, Chủ tịch nước Trung Quốc sang thăm Việt Nam. Chuyến thăm kéo dài đến 22-11-1994”./ Nguồn: Trung Quốc-Việt Nam (sách ảnh) Văn phòng Báo chí Quốc vụ viện nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa biên soạn. China Intercontinental Press, 2003, tr. 26/) (7)

    http://1.bp.blogspot.com/-dZ8rlfOwSQs/UlXb3xbzwYI/AAAAAAABbVQ/zn9Zu0Wt31U/s400/temp-danlambao007.png
    (Hình trên) - Bức ảnh quy tụ rất nhiều gương bán nước tiêu biểu trong
    cái gọi là “nhà văn hóa và thể thao” của chính Lê Đức Anh.

    Đến đây chúng ta nhận thấy rõ vai trò bán nước cực kỳ quan trọng của Lê Đức Anh trong móc xích bán nước của cộng sản Việt Nam.

    III. Kết luận:

    Qua trường hợp của Lê Đức Anh chúng ta thấy đây là một tên cai phu cao su có nhiều tội ác với những người dân lành. Đây là kẻ đã từng tiếp tay cho thực dân Pháp đánh đập nhân dân ta. Đó là tội ác không thể dung tha. Đặc biệt, Lê Đức Anh có vai trò rất quan trọng trong việc bán nước của đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó chúng ta cần phải thấy rõ được bộ mặt thật của Lê Đức Anh để nhân dân một ngày gần đây xét xử trước công luận về tội ác này. Đó chính là lẽ phải và chính nghĩa mà chúng ta phải đấu tranh vì một dân tộc Việt Nam trường tồn mãi mãi.

    22/09/2013
    Đặng Chí Hùng

    Trả lờiXóa
  97. Một con người tài năng, đức độ. Người mà được cả dân tộc Việt Nam yêu mến, xứng đáng là người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Một tài năng kiệt xuất của dân tộc Việt Nam, cho dù chưa được học qua bất cứ một trường lớp Quân sự chính quy nào nhưng với tài năng của mình đã dẫn dắt quân đội ta đánh thắng kẻ thù hùng mạnh nhất lúc bấy giờ. Vô cùng thương tiếc với sự ra đi của Đại tướng.

    Trả lờiXóa
  98. Tình yêu đất nước trong tôi bắt nguồn từ tình yêu quê hương đất nước, nó được tô đậm thêm, mãnh liệt hơn, da diết hơn bởi những trang sử hào hùng, vẻ vang của dân tộc. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một niềm tự hào của dân tộc, là người đã viết lên trang sử vẻ vang cho dân tộc Việt Nam chúng ta.

    Trả lờiXóa
  99. Một con người vĩ đại đã làm nên những điều kì diệu cho cả một đất nước, để lại cho cả một thế hệ những bài học quý báu về tài cũng như đức. Một vị tướng huyền thoại với những chiến lược quân sự phải gọi là bậc thầy, một con người với nhân cách đáng quý trọng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã viết nên trang sử vàng cho dân tộc Việt Nam.

    Trả lờiXóa
  100. Võ Nguyên Giáp (25 tháng 8 năm 1911– 4 tháng 10 năm 2013) là một nhà chỉ huy quân sự và nhà hoạt động chính trị Việt Nam.Là Đại tướng đầu tiên , Tổng tư lệnh tối cao của Quân đội Nhân dân Việt Nam, là vị chỉ huy chính trong Chiến tranh Đông Dương (1946–1954) và chiến tranh Việt Nam (1960–1975). Người cũng trực tiếp hoặc tham gia chỉ huy nhiều chiến dịch quan trọng như Chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950, Trận Điện Biên Phủ (1954), Chiến dịch Tết Mậu Thân (1968), Chiến cục năm 1972, Chiến dịch Hồ Chí Minh (1975), Chiến tranh Đông Dương lần 3 (1979).

    Trả lờiXóa

 
Nhân quyền © 2012 | Designed by True Happy
.